Archive for the ‘Kiến·thức và ý·kiến về tạo từ·ngữ mới và thuật·ngữ mới’ Category

Từ trong Tiếng Việt

Từ trong tiếng Việt
Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến.

1. Đơn vị cấu tạo

Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là các âm tiết.

Mặc dù nguyên tắc phổ biến là các từ được cấu tạo từ các hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau có thể không như nhau.

1.1. Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác, và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết (morphemesyllable) – âm tiết có giá trị hình thái học.

– Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là âm tiết (syllable).
– Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện. Chí ít nó cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ). Sự có mặt hay không có mặt của một tiếng trong một “chuỗi lời nói ra” nào đó, bao giờ cũng đem đến tác động nhất định về mặt này hay mặt khác. Ví dụ:

đỏ – đo đỏ – đỏ đắn – đỏ rực – đỏ khé – đỏ sẫm…
vịt – chân vịt – chân con vịt…
Tiếp tục đọc

Các Kiểu Cấu·tạo Từ Tiếng Việt

Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

1. Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh,đỏ, vàng, tím,…
– Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…
– Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…
– Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy(Theo thống kê của A.Derode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt) nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt.
Tiếp tục đọc

Về sự hình·thành và phát·triển thuật·ngữ Tiếng Việt

Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt

GS HOÀNG VĂN HÀNH

1. Trong cách hiểu phổ biến lâu nay, thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ.

Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy thuật ngữ trong tiếng Việt, cũng như trong các ngôn ngữ đã phát triển khác hình thành nhờ ba con đường cơ bản là: 1) thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường; 2) cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng phương thức mô phỏng và 3) mượn nguyên những thuật ngữ nước ngoài (thường là những thuật ngữ có tính quốc tế)[1]. Hệ quả của những quá trình, hay những phương thức này là hình thành ba lớp thuật ngữ với những đặc trưng khác nhau về hình thái và ngữ nghĩa trong vốn thuật ngữ tiếng Việt. Đó là: 1) lớp thuật ngữ thuần Việt; 2) lớp thuật ngữ mô phỏng và 3) lớp thuật ngữ quốc tế.
Tiếp tục đọc

Phương sách chọn chữ

Danh từ khoa học (tiếp theo)
Tác giả: Gs. Hoàng Xuân Hãn

Chương IV Qui tắc đã theo

Sau khi xem xét kỹ những nguyên tắc trên, tôi đã định theo sự tiến hoá thiên nhiên của Việt âm mà tham dụng cả ba phương sách.

Mỗi khi đặt một chữ, tôi bắt đầu nghĩ nên theo phương sách nào, sau khi quyết định tôi lại nghĩ để xem dùng phương sách ấy ra làm sao. Quy tắc đã theo có thể liệt kê ra sau đây:

1. CHỌN PHƯƠNG SÁCH

1. Một chữ Pháp thường có nhiều nghĩa. Tôi kiếm những nghĩa thuộc về khoa học hay là cần dùng trong sự lập luận khoa học. Rồi mỗi nghĩa đặt theo một chữ; chỉ trừ lúc nào những nghĩa ấy xa nhau lắm thì tôi vẫn đặt một chữ mà thôi.

Ví dụ chữ analyse có ý chia, nhưng đúng ra có nhiều nghĩa gần nhau. Một nghĩa thuộc về triết học: luận lý đi từ kết quả đến nguyên nhân. Tôi dùng chữ phân giải. Khi đặt vào câu, có lúc nói phép phân giải, hoặc là sự phân giải: raisonner par analyse là lý luận theo phép phân giải và analyse d’une question là sự phân giải một vấn đề. Nghĩa thứ hai là chia rẽ ra từng phần. Tôi lấy chữ phân tích. Analyse de la lumière là phân tích ánh sáng. Nghĩa thứ ba thuộc về toán học, nó bao hàm hết cả các môn khảo cứu về phương trình và hàm số. Tôi gọi ý ấy là giải tích.
Tiếp tục đọc

Cách đặt danh·từ khoa·học của Nhật·bản và Trung·hoa

Danh từ khoa học (tiếp theo)
Tác giả: Gs. Hoàng Xuân Hãn

Chương III. Gương trước

Sự đặt danh-từ, không phải riêng về một vấn-đề khoa-học mà thôi, mà cũng không riêng gì về nước ta. Khi nào một dân-tộc mới thâu-nhập một ý-tưởng mới gì, đều phải kiếm cách đặt danh-từ mà gọi. Nhưng, đối với các nước mới qui-hướng về khoa-học như các nước ở Á-đông, vấn-đề có hơi khác. Họphải trong một chốc lát mà gây nên hàng vạn danh- từ. Các nước láng-giềng ta đã giải-quyết ra sao ? Trong nước ta, vấn-đề luật-học đã gây nên một nền danh-từ chuyên-môn trong thực-tế. Người nước ta đã giải-quyết bằng cách nào ?

Sau này ta thử xét cách-thức mà người nước ta đặt chữ về phương-diện chính-trị và luật-học và ta xét cách đặt danh-từ khoa-học của hai nước đồng-văn với ta xưa là Trung-hoa và Nhật-bản.
Tiếp tục đọc

Phương sách đặt danh từ khoa học

Danh từ khoa học (tiếp theo)
Tác giả: Gs. Hoàng Xuân Hãn

Chương II. Phương sách đặt danh từ

Phương sách đặt danh từ khoa học đều là những phương sách người ta thường dùng mỗi lúc muốn nói tới một vấn đề chưa sẵn chữ. Những phương sách ấy gồm có :

o Phương sách dùng tiếng thông thường.
o Phương sách phiên âm.
o Phương sách lấy gốc chữ nho.

Tôi sẽ xét từng phương sách một, xem sự lợi, bất lợi của nó ra sao, và cách ứng dụng nó nên thế nào [4].
Tiếp tục đọc

Danh từ khoa học

Danh từ khoa học
Tác giả: Gs. Hoàng Xuân Hãn

Chương I.  Tính cách một danh từ khoa hoc.
Chương II.  Phương sách đặt danh từ
Chương III. Gương trước
Chương IV.  Qui tắc đã theo

LỜI DẪN
cho “Danh từ Khoa học” của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, xuất bản năm 1942

Chương I. Tính cách một danh từ khoa học.

Phàm đặt một danh từ khoa học, phải theo những điều kiện sau này :

1. Mỗi một ý phải có một danh từ để gọi.

2. Danh từ ấy phải riêng về ý ấy.

3. Một ý đừng có nhiều danh từ.

4. Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý.

5. Danh từ trong các môn phải thành một toàn thể duy nhất và liên lạc.

6. Danh từ phải gọn.

7. Danh từ phải có âm hưởng Việt âm.

8. Danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếng thường và phải có tính cách quốc gia.
Tiếp tục đọc

Nguyên·tắc tạo từ mới

Nguyên·tắc tạo từ mới.
Tác·giả: Đặng Hải Nguyên.

Nhờ chữ quốc-ngữ viết bằng chữ·cái La·tinh, chúng·ta không bị đóng·khung trong phép “lục thư” trong việc tạo từ mới. Trong cái rủi có cái may. Người Pháp đã mang chữ·viết, dùng chữ·cái (letter) abc để ghi âm Việt, thông·qua các cha·cố với mục·đích truyền·bá đạo Công·giáo La·mã (Roman Catholic). Song·song với việc đánh đuổi ngoại·xâm, chúng·ta có được vũ·khí quốc-ngữ vô·cùng lợi·hại (powerful) và kho chữ Việt·nồm (Nho-Việt) vô cùng phong·phú. Một chân·trời mới với khả·năng vô·hạn. Giới·hạn có·chăng là ở trí tưởng·tượng, tinh·thẩn sáng·tạo, khả·năng của mỗi chúng·ta trong việc sử·dụng chúng một·cách nghiêm·chỉnh, một·cách hệ·thống với một tinh·thần khoa·học; giới hạn là ở tính không bao·dung, không cởi·mở, bè·phái, kẻ·cả, tự·ái, kỳ·thị, cố·chấp, tị·hiềm, bài·ngoại.

Mong rằng từ·ngữ Việt nào đúng, chính·xác, chúng·ta sử·dụng mà không phân·biệt chúng thuộc vùng, miền nào; những gì không đúng, không chính·xác sẽ bị đào·thải với thời·gian. Chúng·ta không thể dùng cường·quyền, phe·phái áp·đặt những gì vô·lý vào ngôn·ngữ , vì nếu được đi chăng nữa, chúng chỉ là một mớ hổ·lốn, sẽ làm mất đi tính trong·sáng, tính hệ·thống và tính nhất·quán của Tiếng Việt. Sử·dụng, phổ·biến, giữ·gìn tính hệ·thống và nhất·quán của Tiếng Việt là nhiệm·vụ của mỗi Người Việt·nam (Vietnamese).

Tiếp tục đọc

Cách phân·tích và giải·thích thuật·ngữ

Gốc từ Hi lạp và La-tinh trong Hệ thống Thuật ngữ Pháp – Anh
Tác giả: Nguyễn Hỹ Hậu

B. Danh pháp khoa học Anh, Pháp và tiếng Hy-lạp, La-tinh (tiếp theo)
I. Nguồn gốc thuật ngữ khoa học Anh, Pháp và lý do vay mượn tiếng Hy-lạp, La-tinh
II. Cấu tạo thuật ngữ khoa học dùng yếu tố từ thuộc các cổ ngữ
III. Cách phân tích và giải thích thuật ngữ

Bình thường, ít ai nghĩ đến chuyện tìm cách đặt từ ngữ, thuật ngữ khoa học mới. Thỉnh thoảng người làm khoa học phải gặp chuyện đó, nhất là khi họ nghiên cứu trong một lĩnh vực đang tiến triển mạnh.
Ðôi lúc người sản xuất dụng cụ hay hóa chất, dược phẩm mới, cần tìm một tên “kêu”, hấp dẫn và dễ nhớ, ….
Trái lại, thường xuyên ta cần phải tìm hiểu nghĩa của một thuật ngữ. Ngay cả người làm khoa học cũng có thể gặp từ mới do đồng nghiệp đặt ra, hoặc gặp từ lạ ở lĩnh vực khác.
Sinh viên thường gặp những thuật ngữ mới, phải tìm để hiểu, nhớ và dùng, như vậy mới có tiến bộ được trong chuyện học.

Ngày nay, dù không làm khoa học, ta cũng thường gặp thuật ngữ mới trong báo chí, quảng cáo, truyền hình, truyền thanh.
Phải nói ngay rằng, thật khó lòng mà hiểu một vấn đề nếu ta không chuẩn bị trước.
Ðây là điều cần thiết ở trong bất cứ lĩnh vực nào.

Tìm hiểu một từ mới bắt ta phải hiểu biết một phần nào đề tài, những vấn đề liên quan đến lĩnh vực đó.
Ví dụ nếu ta không biết cấu trúc phân tử thì khó lòng hiểu được khái niệm về hiện tượng đồng phân lập thể (điều này không có nghĩa là mình không thể hiểu những gì nằm ngoài tầm hiểu biết hiện tại và kinh nghiệm của mình).
Kiến thức của mỗi người có thể tăng dần bằng cách thâu thập thêm từ vựng cơ bản. Khái niệm về hiện tượng đồng phân lập thể chẳng hạn, có thể giải thích được cho người thường nếu bắt đầu tăng thêm hiểu biết của họ dần để họ có những khái niệm cần thiết.
Tiếp tục đọc

Danh·pháp khoa·học Anh, Pháp và Tiếng Hy·lạp, La·tinh

Gốc từ Hi lạp và La-tinh trong Hệ thống Thuật ngữ Pháp – Anh (tiếp theo)
Tác giả: Nguyễn Hy Hậu

B. Danh pháp khoa học Anh, Pháp và tiếng Hy-lạp, La-tinh

I. Nguồn gốc thuật ngữ khoa học Anh, Pháp và lý do vay mượn tiếng Hy-lạp, La-tinh
II. Cấu tạo thuật ngữ khoa học dùng yếu tố từ thuộc các cổ ngữ
III. Cách phân tích và giải thích thuật ngữ

Có nhiều ngôn ngữ, xưa cổ và hiện đại, đã góp phần xây dựng từ vựng và ngữ pháp của tiếng Anh, tiếng Pháp hiện thời. Tuy nhiên, không có ngôn ngữ nào đóng góp nhiều hơn hai ngôn ngữ cổ Hy-lạp và La-tinh (Hy-La).
Tiếng Anh, tiếng Pháp đã vay mượn rất nhiều của La-tinh và tiếng này lại mượn nhiều từ của Hy-lạp.

Trong bảng kê hơn một ngàn từ Pháp cơ bản, số từ bác học chiếm vào khoảng 6 phần trăm. Trong một từ điển cơ bản, số từ bình dân chiếm khoảng 75 phần trăm, so với 25 phần trăm từ bác học. Khi xét thêm nhiều từ ngoài các từ cơ bản, tỷ số các từ bác học càng nhiều hơn.

Nếu xem xét 10 ngàn từ thông dụng nhất của tiếng Anh, có vào khoảng 46 phần trăm từ phái sinh trực tiếp hay gián tiếp có gốc La-tinh và 7 phần trăm gốc Hy-lạp. Nếu xét 20 ngàn từ thông dụng, các tỷ số này lên đến 53 và 10 phần trăm.
Tiếp tục đọc