Cần quan·tâm đến thuật·ngữ khoa·học phổ·thông trong sách báo nói·chung và sách khoa·học cho trẻ·em nói·riêng.

Thuật ngữ khoa học phổ thông trong sách báo nói chung và sách khoa học cho trẻ em nói riêng.
Tác giả: Nguyễn Việt Long.

Các bạn từng nghe đến loài cá voi sát thủ chưa? Cứ nghe tên thì chắc rất nhiều người là nạn nhân của nó. Nhưng tìm mãi trên báo mạng và sách vở gần như không thấy nói “gã sát thủ” ấy ăn thịt người, mà chỉ chuyên ăn thịt các loài cá khác, kiểu như “cá voi sát thủ xé xác cá mập” hay “cá voi sát thủ săn sư tử biển”… Quả là thiên vị và bất công: đây là loài duy nhất được phong danh xưng “sát thủ”, mặc dù nó không ăn thịt người (trừ vài trường hợp cá biệt), trong khi bao nhiêu loài cá dữ ăn thịt người lại không đạt được “tước hiệu” đình đám ấy. Thật chả khác nào phong danh hiệu đại kiện tướng cờ vua cho một người thỉnh thoảng mới chơi vài nước cờ đơn giản. Ngoài cái tên dữ tợn đó, nó còn có một cái tên khác cũng ấn tượng không kém: cá hổ kình! (Có nhiều loài cá khác cũng được gọi là cá hổ không thuộc lớp Thú như cá voi). Tra cứu thêm ta biết rằng thậm chí cá hổ kình không phải là cá voi, mà là cá heo (thuộc họ Cá heo Delphinidae, bộ Cá voi Cetacea). Thì ra thủ phạm của những danh xưng ngoáo ộp ấy là việc cắm đầu cắm cổ dịch cái tên tiếng Anh killer whale và tên tiếng Hán (trong tiếng Hán thì kình chỉ động vật thuộc bộ Cá voi, nếu Việt hóa thì lẽ ra phải là cá kình hổ). Chả lẽ mình cứ bắt chước một cách máy móc ngôn ngữ khác (họ dùng đã quen đến mức khó đổi dù có khi không hợp lý lắm)? Chúng ta nên gọi đúng tên của nó là cá heo voi hoặc cá heo hổ.

Mấy năm gần đây, động đất xảy ra thường xuyên hơn, nên chúng ta bắt đầu quen với những thuật ngữ như tâm chấn xuất hiện trên báo chí. Theo tường thuật của báo chí, thì “quân đội và cảnh sát đã tới được vùng tâm chấn của cơn động đất”, nhưng chỗ khác lại nói “tâm chấn ở độ sâu 10 km”, vậy chả lẽ con người đã xuống sâu trong lòng đất tới 10 km? Liệu có ai băn khoăn tự hỏi tâm chấn chỉ tâm động đất ở tít sâu trong lòng Trái đất hay là điểm chiếu của nó trên mặt đất, bởi vì khoảng cách x trong câu “tâm chấn cách thành phố A x km” sẽ rất khác nhau tùy theo quan niệm nó ở trên mặt đất hay dưới sâu (tức là xét cạnh góc vuông hay cạnh huyền của tam giác vuông). Tìm hiểu kỹ hơn ta có thể ngạc nhiên khi nhận thấy có tới hai “tâm chấn” mà các ngôn ngữ nước ngoài phân biệt rất rành mạch, trong khi báo chí tiếng Việt gộp làm một! Phải chăng tiếng Việt lạc hậu hơn các thứ tiếng khác? Không phải, chẳng qua hiểu biết khoa học và tiếng Việt của các nhà báo Việt Nam lạc hậu hơn các đồng nghiệp nước ngoài và họ lười tra cứu. Đó là chưa kể về mặt ngôn ngữ, theo trật tự âm tiết thì cách dùng từ Hán Việt “tâm chấn” chưa ổn, phải dùng là “chấn tâm” mới đúng. Các từ điển chuyên ngành và Từ điển Bách khoa Việt Nam (TĐBKVN) dùng đúng tên gọi cả về mặt khoa học lẫn là ngôn ngữ: chấn tiêu (tâm trong, tức nơi phát sinh động đất, thường ở dưới sâu; tiếng Anh: hypocenter hoặc focus; tiếng Pháp: hypocentre; tiếng Nga: гипоцентр, очаг; tiếng Trung: chấn nguyên) và chấn tâm (tâm ngoài, tức hình chiếu của chấn tiêu lên mặt đất; tiếng Anh: epicenter, epicentre; tiếng Pháp: epicentre; tiếng Nga: эпицентр; tiếng Trung: chấn trung). Vấn đề này tôi đã từng nêu trong mục “Độc giả nhặt sạn” trên Tuần Việt Nam cách đây bốn năm (bài Có nên dùng từ “tâm chấn”?) nhưng chỉ như ném đá ao bèo, và báo chí hầu như vẫn dùng như cũ.

Một trường hợp khác. Các bạn có ai biết giống chim nào mỏ mềm không? Bản thân tôi chưa gặp bao giờ, nên tôi hết sức ngạc nhiên khi gặp thuật ngữ chim mỏ cứng xuất hiện trong cả từ điển Lạc Việt Anh-Việt để chỉ loài chim avocet (thuộc chi/giống Recurvirostra) trong tiếng Anh. Cứ làm như tất cả lũ chim còn lại đều có mỏ mềm hết! Và với tên gọi đó, làm thế nào để phân biệt loài chim cụ thể  kia trong đám chim đều mỏ cứng cả? Thì ra tên gốc của nó là chim mỏ cong: bằng chứng là từ avocette trong từ điển Lạc Việt Pháp-Việt nghĩa là chim mỏ cong (ngay hình ảnh trên mạng và tên Latin của nó đều xác nhận như vậy: Recurvirostra nghĩa là mỏ cong vểnh), thế rồi do gõ chữ tam sao thất bản mà biến thành chim mỏ cứng. Trăm cái sai hóa ra đều tại anh hay ả đánh máy cả, thiên hạ nói cấm có sai. Tra cứu kỹ hơn nữa (chẳng hạn xem cuốn Chim Việt Nam của các tác giả Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karen Phillipps. NXB Lao động – Xã hội, 2000) ta sẽ biết đó là chim cà kheo mỏ cong (tên khoa học: Recurvirostra avosetta) mà ở Việt Nam cũng có.

Có những trường hợp chỉ cần suy luận lôgic (giống như trường hợp trên) là ta có thể loại bỏ những cái sai tương đối rõ ràng. Lấy ví dụ khác: racoon (tiếng Anh) thường được gọi một cách chắc nịch là gấu trúc [Bắc] Mỹ, và họ Procyonidae chứa loài racoon cũng được gọi tương ứng là họ Gấu trúc [Bắc] Mỹ. Thực ra chỉ có loài panda sống ở Trung Quốc ăn lá trúc nên người ta mới gọi là gấu trúc, còn racoon ở châu Mỹ lấy đâu tre trúc mà ăn, vậy hà cớ gì lại gọi là gấu trúc? Tên gọi đúng là gấu mèo châu Mỹ, vì chúng sống không chỉ ở Bắc Mỹ, mà cả ở Trung Mỹ.

Một cái lỗi khác chắc cũng tại khâu đánh máy: cassowaryđà điểu [đầu] mào, thế mà chả hiểu sao lại biến thành đà điểu đầu mèo trong một số sách và từ điển (như từ điển Lạc Việt), mà trông hình ảnh thì chẳng có gì giống đầu mèo cả, chỉ thấy cái mào to tổ bố.

Chắc có người sẽ bảo: những thuật ngữ trên không phải thuật ngữ phổ biến trong đời sống. Thực ra những thuật ngữ đó vẫn thường xuất hiện trong từ điển phổ thông, do đó là tương đối cơ bản và phổ biến, chứ không phải thuật ngữ chuyên sâu. Nhưng ngay cả nhiều thuật ngữ cơ bản và phổ biến hơn trong đời sống vẫn bị dùng sai hoặc gọi sai tên.

Vài ví dụ đơn giản: nhiều người còn lẫn lộn giữa hành tinh, sao (định tinh) và vệ tinh, giữa nham thạch (rock, đá của vỏ Trái đất) và dung nham (lava, đá nóng chảy của núi lửa). Khi đọc số, từ linh gốc Hán chỉ số 0, do đó ta chỉ có thể nói một trăm linh chín (109) chứ không nói một trăm linh mười (110) như có người vẫn vô tình dùng.

Trong lĩnh vực kinh tế tài chính, từ giá thành hay bị dùng sai với nghĩa giá bán sản phẩm, trong khi nghĩa đúng chỉ là toàn bộ chi phí sản xuất để tạo ra sản phẩm (chưa cộng thêm lãi). Vài năm trở lại đây, từ năm tài khóa trở thành một từ thời thượng và xuất hiện khá nhiều trên báo, đài. Từ này thừa chữ, dùng đúng phải là tài khóa hoặc năm tài chính, còn gọi là niên độ tài chính.

Thuật ngữ mảng kiến tạo, bắt nguồn từ thuyết kiến tạo mảng, đã được đề cập trong sách Địa lý lớp 10 phổ thông, ấy thế mà trên báo in và báo mạng vẫn ta bắt gặp nhan nhản từ đĩa kiến tạo (do từ plate vừa có nghĩa là mảng, đồng nghĩa với plaque, vừa có nghĩa là đĩa ăn). Số báo Thanh niên ra ngày 4-3-2012 có lẽ là số báo mới nhất có bài nhắc đến “đĩa kiến tạo” (“Bí ẩn sự trỗi dậy của Himalaya”). Xin nói thêm là các mảng thạch quyển không hề có hình đĩa bao giờ.

Hố thiên thạch trên Mặt trăng (lunar crater) có gờ xung quanh khá cao, còn gọi là núi miệng phễu, hình thành do các thiên thạch va đập vào bề mặt Mặt trăng, nhưng vẫn cứ thường xuyên bị gọi là miệng núi lửa, mặc dù không hề liên quan gì đến núi lửa, chẳng qua vì người ta chỉ biết đến nghĩa miệng núi lửa (volcanic crater), mà bỏ qua nghĩa hố thiên thạch (meteorite crater).

Những ví dụ trên cho thấy tình trạng hiểu sai, dùng sai có ở khắp các lĩnh vực. Nhưng trong sinh vật tình trạng sai có vẻ như phổ biến hơn cả. Người ta cứ dịch mà không tìm hiểu, tra cứu xem con vật đó có sinh sống ở Việt Nam hay không, nếu có thì tên gọi Việt Nam của nó là gì, và thường chọn cách đỡ tốn công nhất là phiên âm. Vì thế nên cầy lỏn thì gọi là cầy mangut (mongoose); chim cốc biển thì gọi là chim chiến (frigatebird), cá nạng hải thì gọi là cá đuối Manta (manta ray). Trong nhiều bài báo hoặc bản dịch, người dịch không phân biệt được các khái niệm về bậc phân loại sinh vật như loài, chi/giống, họ, bộ (được học trong chương trình phổ thông). Họ cũng không biết cách viết tên các bậc phân loại này cho chuẩn, trong đó tên chi/giống và tên loài luôn viết nghiêng, tên loài gồm hai từ Latin mà từ đầu tiên (chỉ chi/giống) luôn phải viết hoa, từ sau (chỉ loài) không viết hoa.

Một loài chim có ở Việt Nam là chim dẽ lớn (Philomachus pugnax), thuộc phân họ Dẽ Calidridinae, họ Dẽ Scolopacidae, lại được một số từ điển phổ thông dịch một cách mỹ miều từ tiếng Anh (ruff) bồ câu áo dài, trong khi nó chẳng giống bồ câu chút nào, cũng chẳng có họ hàng dây mơ rễ má gì với bồ câu, càng không có cái gì gợi đến áo dài (niềm tự hào của người Việt Nam), mà chỉ thấy lông cổ chim xòe ra hình cái quạt.

Chúng ta có khi nào để ý rằng cá sấu trong tiếng Anh có hai tên gọi: alligator và crocodile và chúng khác nhau như thế nào không? Alligator trong nhiều sách và từ điển trước đây thường gọi là cá sấu [châu] Mỹ. Ở đây có vẻ như có sự thiên vị châu Mỹ trong tên gọi, vì alligator chỉ gồm hai loài, một loài sống ở châu Mỹ là American alligator (Alligator mississippiensis) và loài thứ hai sống ở Trung Quốc là Chinese alligator (Alligator sinensis). Chưa kể châu Mỹ còn có nhiều loài cá sấu khác (crocodile và caiman), đâu chỉ có riêng alligator, để mà gọi alligator là cá sấu [châu] Mỹ? Ở đây giải pháp là đặt tên cho alligator, dựa vào đặc điểm khác biệt giữa alligator và crocodile (cá sấu đích thực, cá sấu thông thường hay cá sấu chính thức). Kết quả ta có tên gọi cho alligator là cá sấu mõm rộng.

Chim nhạn và chim én, chim én và chim yến là hai cách gọi cho cùng một loài/nhóm chim hay chúng thật sự khác nhau? Thêm vào mớ bòng bong đó còn có tên gọi chim nhàn, mà nhiều người cứ tưởng đây là từ viết sai của chim nhạn. Từ điển Lạc Việt dịch swift là “chim én”, còn swallowmartin là “chim nhạn”, riêng tern thì dịch là “nhạn biển, chim én biển, chim hải yến”. Chim yến (swift) thuộc họ Yến (Apodidae, tiếng Hán gọi là vũ yến) bay nhanh, không mấy khi đậu vì chân yếu, đặc điểm nổi bật là dùng nước bọt làm tổ ở vách đá ngoài biển, mà tổ yến gọi là yến sào, là món ăn quý. Còn chim nhạn hay chim én (tiếng Anh: swallowmartin, họ Nhạn Hirundinidae) có cánh thẳng, ngắn và rộng hơn chim yến, thường đậu dọc đường dây điện. Tuy nhiên, trong văn chương gốc Hán thời trước, tên gọi nhạn (雁) thường chỉ ngỗng trời, còn chim nhạn theo nghĩa ngày nay thì có từ yến (燕), sang tiếng Việt thành én. Nhóm thứ ba là chim nhàn (tiếng Anh: tern, phân họ Nhàn Sterninae, họ Mòng bể Laridae) to hơn hẳn hai loại trên, thường sống ở vùng đầm lầy ven biển hoặc các đảo nhỏ, chân có màng bơi, có thể lặn xuống nước để bắt cá.

Lại có hai loại/nhóm nhím khác xa nhau cùng tồn tại, nhưng trong nhiều từ điển, các tác giả tưởng là một, rồi giải thích kiểu râu ông nọ cắm cằm bà kia. Loại nhím thứ nhất là nhím lợn hay nhím lông (porcupine), ở nước ta có hai loài là: a) đon/don hay hon, mà trong dân gian đôi khi cũng gọi là nhím đuôi dài (tiếng Anh: brush-tailed porcupine, tên khoa học: Atherurus macrourus), và b) nhím đuôi ngắn (tiếng Anh: Malayan porcupine, tên khoa học: Hystrix brachyura) và phân loài nhím bờm (Hystrix brachyura subcristata), thuộc họ Nhím Hystricidae, bộ Gặm nhấm Rodentia; cả hai loài này được các hộ dân nuôi nhiều ở Việt Nam mấy năm gần đây. Loại nhím thứ hai là nhím chuột, gồm nhím chuột có gai hay nhím gai (hedgehog) và nhím chuột không gai (gymnure, moonrat), thuộc họ Nhím chuột hay Chuột voi Erinaceidae, bộ Chuột voi Erinaceomorpha (trước đây xếp vào bộ Ăn sâu bọ Insectivora). Trong loại này ở nước ta không có nhím gai (hedgehog), chỉ có nhím chuột không gai (gymnure), cụ thể là dím đuôi dài, tức chuột voi núi (shrew gymnure, tên khoa học: Neotetracus sinensis) và chuột voi đồi (short-tailed gymnure, tên khoa học: Hylomys suillus).

Ấy thế mà trong cuốn Từ điển tranh về các con vật của tác giả Lê Quang Long (NXB Giáo dục, 2002), mục từ Nhím có ghi chú cả hai tên tiếng Anh là hedgehog, porcupine, rồi viết rằng đây là “loài thú thuộc bộ Gặm nhấm, có ở Việt Nam…”. Tương tự như vậy, cuốn Cây cỏ và động vật làm thuốc của nhóm tác giả thuộc Viện Dược liệu (NXB KHKT, 2004) cũng mắc lỗi này khi trong mục Nhím (Acanthion subcristatum, tên đồng nghĩa: Hystrix hodgsoni) ghi cả hai tên tiếng Anh là hedgehog và cresced porcupine (sic). Thực ra Hystrix hodgsoni chỉ có thể là porcupine chứ không thể là hedgehog, nhưng không phải là nhím bờm Ấn Độ crested (sách viết sai là cresced) porcupine (Hystrix indica). Cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS, TS Đỗ Tất Lợi (NXB KHKT, 1995) cũng tưởng hai nhóm nhím này là một khi viết trong mục “Con nhím”:

[Con nhím] còn gọi là con dím, hào chư, cao chư, sơn chư, loạn chư. Tên khoa học Hystrix hodgsoni. Thuộc họ Nhím Hystricidae. Con nhím cho vị thuốc là thích vị bì (Corium Hystrici) là dạ dày của con nhím Hystrix hodgsoni. Tại Trung Quốc người ta dùng dạ dày của loài nhím thích cầu tử hay mao thích Erinaceus europaeus L. hoặc con nhím Hemichianus dauricus Sundevall cùng thuộc họ Erinaceidae” (trang 1263).

Bỏ qua lỗi chính tả trư (lợn) viết thành chư, hào trư chính là nhím lợn (với loài cụ thể là nhím Trung Quốc Hystrix hodgsoni), còn thích vị bì không phải là dạ dày của con nhím Hystrix hodgsoni, mà là da của nhóm nhím gai/chuột, cụ thể là hai loài Erinaceus europaeus Mesechinus/Hemiechinus dauuricus (sách viết sai là Hemichianus dauricus), mà Trung Quốc gọi là thích vị, thích cầu tử hay mao thích.

Nhiều sách báo và từ điển cho đến nay vẫn còn dùng tên gọi cá nược để chỉ loài cá cúi hay bò biển, loài cá gắn với những truyền thuyết về nàng tiên cá. Tuy nhiên đây là hai loài khác hẳn nhau. Cá nược, còn gọi là cá heo sông hay cá heo nước ngọt (Orcaella brevirostris, tên tiếng Anh: Irrawaddy dolphin) thuộc họ Cá heo Delphinidae, trong khi cá cúi, còn gọi là cá nàng tiên hay bò biển (Dugong dugong, tên tiếng Anh: dugong), thuộc họ Bò biển (Dugongidae). Thế mà trên trang mạng Bách khoa tri thức (http://www.bachkhoatrithuc.vn) trong chủ đề BKTT thiếu nhi có bài viết lộn tên: “Tại sao cá nược được gọi là mỹ nhân ngư?”

Trường hợp nhẹ hơn cả là dùng thuật ngữ không thống nhất trong sách báo hoặc giữa các ngành. Ví dụ: cùng một thuật ngữ chỉ một loại bức xạ nền lan tràn khắp vũ trụ ngày nay, tùy theo việc dịch từ tiếng nước ngoài nào mà nó có mấy tên gọi khác nhau: bức xạ tàn dư theo tiếng Nga (реликтовое излучение), từ này được Từ điển bách khoa Việt Nam chọn dùng; bức xạ hóa thạch theo tiếng Pháp (rayonnement fossile); bức xạ phông/nền vũ trụ, bức xạ nền vi ba hay bức xạ phông vi sóng vũ trụ theo tiếng Anh (cosmic [microwave] background radiation). Chuyện này tưởng như chỉ gây phiền toái mà hình như không gây tác hại gì lắm. Nhưng hãy thử tưởng tượng trong tương lai, khi Việt Nam xây dựng và vận hành hai nhà máy điện hạt nhân, một theo thiết kế của Nhật Bản, một theo thiết kế của Nga, thì việc không thống nhất thuật ngữ khi dịch từ tiếng Nhật và từ tiếng Nga có thể ảnh hưởng tai hại đến an toàn hạt nhân như thế nào.

Ngay cả những văn bản nhà nước đáng lẽ phải chuẩn mực thì đôi khi cũng không chuẩn, lỗi sai do cẩu thả, do kiến thức khá nhiều. Chẳng hạn, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ký ban hành có nhiều chỗ không chính xác hoặc sai sót trong việc định danh động vật, thực vật, không kể những lỗi chính tả về cả tiếng Anh, tên khoa học lẫn tiếng Việt. Chỉ xin nêu một số ví dụ đơn giản và rõ ràng, nếu không sẽ thành danh sách quá dài và phải giải thích cặn kẽ cho những người không am hiểu về phân loại động vật:

– Caracal (Caracal caracal) được định danh là linh miêu, trong khi tên đúng phải là mãn rừng, mà cách đó khoảng chục dòng ở phía dưới cũng có từ linh miêu (dùng đúng) với tên tiếng Anh là Eurasian lynx.

– Chồn hôi (skunk) thuộc họ Chồn hôi (Mephitidae) thì dịch là triết Bắc Mỹ, trong họ Triết Bắc Mỹ (Mephitidae). Còn phân họ hay họ phụ Chồn (Mustelinae) thì dịch là họ Chồn. Trong phân họ này lại có linh liêu (sic) chân đen (black-footed ferret, Mustela nigripes)!

– Fur seal (Arctocephalus spp.) không phải là hải cẩu như đã ghi trong sách mà là gấu biển, thuộc họ Sư tử biển (Otariidae).

– Procyonidae không phải là họ Gấu Nam Mỹ mà là họ Gấu mèo châu Mỹ. Các loài gấu mèo trong họ Procyonidae không sống ở Nam Mỹ mà ở Trung Mỹ và Bắc Mỹ. Chỉ có họ Gấu nói chung (Ursidae) chứ không có họ Gấu Nam Mỹ, và những con gấu châu Mỹ trong họ này sống ở Bắc Mỹ.

– Sloth bear (Melursus ursinus) là gấu lợn (gấu ăn mối) thì dịch là gấu lười

– Bowhead whale dịch là cá voi đầu bò (bowhead là đầu hình mũi tàu chứ có phải cowhead đâu mà nghĩa là đầu bò). Right whales (Eubalaena spp.) thì ghi là cá voi đầu bò Euba, thật là vượt mọi sự tưởng tượng: tên chi/giống Eubalaena nghĩa là cá voi đích thực (Eu = đích thực, balaena = cá voi) thì lại ngắt ra để phiên âm thành Euba. Kiểu ngắt từ Latin ra, giản lược một cách tùy tiện rồi phiên sang tiếng Việt rất hay được văn bản này sử dụng một cách tùy tiện như vậy. Xin lẩy ra vài ví dụ: Wild yak /Bos mutus /Bò ma-tu (?); Bryde’s whale /Balaenoptera edeni /Cá voi đê-ni; Sperm whale /Physeter catodon /Cá voi nhỏ co-to (?); Truk flying fox /Pteropus insularis /Dơi ngựa In-su; Flying Foxes /Acerodon jubatus/ Dơi quả A-xe. Có chỗ để nguyên không dịch từ có nghĩa: Military Macaw / Ara militaris /Vẹt đuôi dài Military; Pileated (Red capped) parrot /Pionopsitta pileata /Vẹt Pilet.

– Cá nhà táng (sperm whale) và họ Cá nhà táng (Physeteridae) thì dịch là cá voi nhỏ và họ Cá voi nhỏ

– Black finless porpoise nghĩa là cá heo đen không vây thì dịch ngược nghĩa thành cá heo vây đen.

Xin nhắc đến cuốn Từ điển tranh về các con vật dành cho thiếu nhi đã nói ở trên một lần nữa, vì những sai sót độc đáo của nó. Một số tên tiếng Anh không tương ứng với tên tiếng Việt (không kể nhiều từ tiếng Anh viết sai chính tả trong sách), chẳng hạn: báo gấm sống ở Việt Nam và châu Á không phải là jaguar (tên báo đốm châu Mỹ) như trong sách này ghi mà là clouded leopard; bò tót hay con min ở miền Trung Việt Nam không phải là bull (chỉ có nghĩa là bò đực) mà là gaur; chim họa mi không phải là nightingale (một loài chim oanh không sống ở Việt Nam), mà là melodious laughingthrush hay hwamei. Cá sấu hoa cà ở Việt Nam thì được dịch sai là alligator (xem giải thích ở trên), kèm theo cái tên đúng là brackish water crocodile.

Nhưng điều độc đáo nhất trong cuốn sách trên là tác giả đã tự dịch nhiều tên con vật từ tiếng Việt sang tiếng Anh theo kiểu Việt Nam mà người Anh không dùng. Ví dụ: bọ vẽ (bọ nước) được dịch thành drawing beetle (tên đúng phải là whirligig beetle), bướm phượng (swallowtail/papilionid butterfly) thành phoenix butterfly, khỉ đầu chó (baboon) thành cynocephalus và dog-headed ape; khỉ mặt đỏ (stump-tailed monkey/macaque, bear macaque) thành red-faced monkey; khỉ vàng (rhesus monkey/macaque) thành common monkey; chim báo mật (honey guide bird, honeyguide) thành honey spy bird; chồn dơi (flying lemur, colugo) thành bat-weasel; ếch giun/trun (caecilian) thành worm-frog; vòi hương, tức cầy vòi đốm là musk-ape (?), trong khi tên đúng là Asian/common palm civet.

Những sai sót, thiếu thống nhất như vậy trong sách báo phổ thông nói chung, trong văn bản quản lý và sách khoa học cho trẻ em nói riêng lâu nay dường như chưa được mấy ai để ý. Hoặc có khi không có người biết để chỉ ra cái sai và hầu như không có ai làm công việc tỉ mỉ, mất công là định danh tiếng Việt cho các loài, chi, họ, bộ… sinh vật trên thế giới sao cho thành hệ thống nhất quán, giảm hết mức sự trùng lặp và thiếu chính xác, làm chỗ dựa cho người dịch.

Việt Nam đang thiếu nghiêm trọng các bộ sách từ điển bách khoa hoặc sách dạng công cụ tra cứu, tham khảo đầy đủ, chuẩn mực, trang bị những kiến thức cơ bản (chưa nói đến các kiến thức cao siêu), cập nhật cho đại chúng và cho trẻ em trên bước đường khởi đầu tìm hiểu khoa học. Điều này được nói rõ trong “Lời nói đầu” của TĐBKVN tập 4 (năm 2005): “Đây là bộ từ điển bách khoa của nhiều chuyên ngành biên soạn khi các chuyên ngành hầu như chưa có từ điển hay bách khoa thư chuyên ngành. Các thuật ngữ khoa học do các chuyên ngành sử dụng chưa có sự thống nhất và chuẩn hóa mang tính quốc gia”.

Xin minh họa cho kết luận trên bằng một ví dụ trong lĩnh vực thiên văn học. Trước khi các cuốn sách Thiên văn và vũ trụ (Nguyễn Việt Long, NXB Hải Phòng, 2004; tái bản: NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2006) và Thiên văn (chủ biên: Nguyễn Việt Long, NXB Giáo dục, 2006) trong bộ Kho tàng tri thức nhân loại ra đời với tên gọi và chỉ dẫn đầy đủ của toàn bộ 88 chòm sao trên trời (tên tiếng Việt, tên tiếng Hán, tên tiếng Latin, tiếng Anh, tiếng Pháp) thì bạn đọc không thể tìm được ấn phẩm tiếng Việt nào có danh sách toàn bộ các chòm sao trên trời để tra cứu. Cuốn Từ điển bách khoa thiên văn học (nhóm tác giả) của NXB Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 1999 cũng chỉ có danh sách 38 chòm sao chính ở trang 41, chưa kể vài chòm sao bị gọi sai tên: chòm sao Capricornus/ Capricorn nghĩa là Con Dê (tên tiếng Hán: Sơn Dương, Ma Kết) được Việt hóa là chòm Con Hươu, còn chòm sao Con Cừu (Aries, Bạch Dương) thì lại gọi là chòm Con Dê, chòm sao Máy Bơm (Antlia) thì mang tên Máy Hơi Nước; ngoài ra một số chòm sao khác có tên gọi tiếng Việt bất nhất, hoặc cái thì mang tên thuần Việt, cái thì mang tên tiếng Hán, chỗ thì kèm tiếng Latin, chỗ thì kèm tiếng Pháp rất lộn xộn. Ngay TĐBKVN gồm 4 tập cũng chỉ có hai bản đồ sao cỡ nhỏ ở mục “Bầu trời sao” không theo quy tắc chiếu hình chuẩn nào, trong đó ghi tên của gần ba chục chòm sao, ngoài ra có chưa đầy một chục chòm sao có mục từ riêng. Tuy nhiên cả hai cuốn từ điển trên đều mắc lỗi nhầm hai chòm sao Tiên Vương và Tiên Hậu thành Thiên Vương (trở nên trùng tên với hành tinh Thiên Vương của hệ Mặt trời) và Thiên Hậu.

Trong toán học, thì thuật ngữ dùng để gọi tên các số lớn mới chỉ dừng lại ở cấp độ tỉ (số to hơn nữa thì ta phải ghép từ: trăm tỉ, nghìn tỉ, tỉ tỉ,… nhiều khi rất dài) trong khi các ngôn ngữ châu Âu đã có billion hay milliard (tỉ), trillion (1000 tỉ hay 1012ở Mỹ và nhiều nước châu Âu), quadrillion (1 triệu tỉ hay 1015), …, quattuodecillion (1045), …

Một đất nước còn chưa quan tâm đến tình trạng thuật ngữ lộn xộn, kiến thức cơ bản trên sách báo còn quá nhiều sai sót, thiếu công cụ tra cứu tri thức bách khoa và thiếu người chăm lo cải thiện tình hình thì việc phát triển khoa học tiên tiến, đưa giáo dục lên ngang hàng quốc tế chỉ là chuyện xa vời.

Nguồn:
http://www.viet-studies.info/NguyenVietLong_ThuatNguKhoaHoc.htm

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: