Khái·lược Về Văn·học Chữ Nôm Ở Việt Nam

Khái Lược Về Văn Học Chữ Nôm Ở Việt Nam – GS. TSKH. Nguyễn Quang Hồng
 

Ngay từ đầu Công nguyên cho đến suốt 1000 năm Bắc thuộc sau đó, các dân tộc trên đất nước Việt Nam đã sống trong quá trình cộng cư với nhau và cả với người Hán từ phương Bắc đến. Trải qua quá trình cộng cư này cùng với sự tiếp xúc với chữ Hán và văn hóa Hán, các dân tộc Việt Nam đã dần dần chủ động sử dụng chữ Hán trước hết là trong hành chính và trong giáo dục, rồi cả trong sáng tác văn học, hình thành một nền văn học chữ Hán của chính dân tộc mình. Và từ khi thoát li khỏi sự đô hộ trực tiếp của phong kiến phương Bắc, thì bên cạnh chữ Hán vẫn tiếp tục được coi trọng, người dân bản địa Việt Nam còn sáng tạo ra chữ viết cho bản ngữ của mình. Đó là các hệ thống chữ viết ô vuông theo hình mẫu chữ Hán, được gọi là chữ Nôm: Người Kinh (tộc người Việt) có chữ Nôm Việt, người Tày có chữ Nôm Tày, v.v.

Với chữ Nôm Việt, ở Việt Nam đã hình thành nên một nền văn chương chữ Nôm (bên cạnh văn chương chữ Hán). Và chính trong lĩnh vực sáng tạo văn học, chữ Nôm gắn liền với ngôn ngữ dân tộc đã tạo nên những tác phẩm có giá trị, chiếm những vị trí cao nhất trong văn học cổ điển Việt Nam. Xin trình bày đôi nét khái quát về những chặng đường hình thành các thể thức và thể loại cùng với những tác giả và tác phẩm tiêu biểu của nền văn học chữ Nôm tiếng Việt.

1. THỜI KỲ SƠ KHAI

Theo quốc sử Việt Nam thì từ thế kỷ XIII dưới thời nhà Trần, ở Đại Việt đã có nhiều người làm thơ phú bằng chữ Nôm, đặc biệt có Nguyễn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố, song tác phẩm của họ đều đã thất truyền từ lâu.

Nguyễn Thuyên  阮 詮 không rõ năm sinh năm mất. Đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) năm 1247, thời Trần Nhân Tông  陳仁宗 (1279-1293). Thượng thư bộ Hình. Năm 1282, có cá sấu vào sông Phú Lương. Vâng mệnh triều đình, ông lập đàn tế và làm bài văn tế bằng chữ Nôm ném xuống sông, cá sấu liền bỏ đi. “Vua cho rằng việc làm này giống như Hàn Dũ  翰愈, nên cho Nguyễn Thuyên đổi thành họ Hàn” (Đại Việt sử kí toàn thư). Theo sử sách và gia phả họ Nguyễn ở Cao Bằng, thì Nguyễn Thuyên là người đầu tiên dùng chữ Nôm để chép gia phả họ Nguyễn, viết quốc sử và làm thơ phú quốc âm. Tác phẩm Phi sa tập ( 披沙集 ) của ông gồm nhiều bài thơ phú chữ Hán và cả chữ Nôm. Nhưng tất cả đều thất truyền. Tương truyền thơ chữ Nôm của Hàn Thuyên mở đầu cho việc kết hợp thơ ca dân gian người Việt với thể thức thơ Đường (có biến đổi về số chữ và niêm luật) để có một thể thơ mà người đời sau gọi là  thể thơ “Hàn luật”.

Gần như cùng thời với Nguyễn Thuyên, có Nguyễn sĩ Cố  阮 士 故  (? – 1312). Ông lãnh chức Nội thị Học sĩ, tức thầy dạy hoàng tử mà sau này là vua Trần Nhân Tông. Ông nổi tiếng đương thời về tài làm thơ Nôm,  nhưng tác phẩm cũng đều thất truyền. Tương truyền thơ ông có ý vị trào lộng, gần giống với Đông Phương Sóc 東 方 朔  đời Hán.

Trần Khâm  陳欽 (1258 – 1308) tức Trần Nhân Tông, vua thứ ba nhà Trần. Cùng vua cha thực hiện đại đoàn kết hoàng tộc và dân chúng, đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông (1285, 1287-88). Từ sau 1299 ông rời Kinh đô, làng mạc, lên ở hẳn núi Yên Tử, dựng chùa tu Phật, lập ra dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử mà ông là tổ thứ nhất. Trần Nhân Tông viết nhiều tác phẩm thiền học và thơ Thiền bằng Hán văn. Tác phẩm viết bằng chữ Nôm còn lại đến nay có một bài phú và một bài ca. Đó là bài Cư trần lạc đạo phú ( 居 陳 樂 道 賦 ) và bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca  ( 得 趣 林 泉 成 道 歌 ). Cả hai bài này đều do người đời sau cho vào tập Thiền tông bản hạnh ( 禪 宗 本 行 ), khắc ván in lần đầu vào năm Cảnh Hưng 6 (1745). Đó là những bài ca ngợi cảnh thiền và lòng thiền, trong đó con người an nhiên tự tại, sống giữa đời trần mà cũng hòa vui trong đạo.

Lý Đạo Tái  李道載 (1254 – 1334) tức là sư Huyền Quang, tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, cùng thời với Trần Nhân Tông. Ông cũng là người viết nhiều tác phẩm về thiền học, và cả thơ chữ Hán. Trong tập Thiền tông bản hạnh nói trên có bài Vịnh Hoa Yên tự phú ( 詠 華 煙 寺 賦 ) viết bằng chữ Nôm, là do ông sáng tác.

Mạc Đĩnh Chi  莫 挺 芝 (1272 – 1346). Ông quê ở Hải Dương, năm 1304 đỗ Trạng nguyên, làm quan dưới triều Trần Anh Tông và Trần Hiển Tông. Sau khi về hưu, mở trường dạy học. Nhà nghèo, nhưng sống thanh liêm, có khí tiết. Ông từng đi sứ phương Bắc, có tài ứng đối và biện luận. Mạc Đĩnh Chi sáng tác nhiều bằng Hán văn, nhưng chỉ còn lại bài phú Ngọc tỉnh liên phú ( 玉 井 蓮 賦 ) và bốn bài thơ chữ Hán. Riêng về văn thơ chữ Nôm, ông được coi là tác giả bài Giáo tử phú ( 教 子 賦 ) gồm 204 câu, mối câu 4 chữ, được khắc ván in cùng với tác phẩm của vua Trần Nhân Tông và sư Huyền Quang trong tập Thiền tông bản hạnh đã nói ở trên.

Chu Văn An  朱 文 安 (? – 1370) đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) nhưng không làm quan, mở trường dạy học. Những năm 1314 – 1329 được mời về Thăng Long giữ chức Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Ông nổi tiếng với Thất trảm sớ  七 斬 疏 (chữ Hán) đòi chém bảy tên gian thần. Riêng về thơ chữ Nôm ông có Tiều ẩn quốc ngữ thi tập ( 樵 隱 國 語 詩 集), nhưng nay đã thất truyền.

Hồ Quý Ly  胡季 釐 (1336 – 1407?) là vua đầu tiên triều nhà Hồ, một triều đại ngắn ngủi ở Việt Nam. Ông lên ngôi từ ngai vua nhà Trần năm 1400. Năm 1406, không chống cự nổi quân nhà Minh, cả ba cha con ông bị giặc bắt đưa về Trung Hoa, rồi sau mất ở đó. Hồ Quý Ly là ông vua có tinh thần cải cách táo bạo, cả về quân sự, kinh tế và văn hóa tư tưởng. Nhưng ông vấp phải sự chống đối của phái bảo thủ, không thu phục được nhân tâm, nên dễ thất bại. Riêng về mặt ngôn ngữ văn tự, Hồ Quý Ly là ông vua đầu tiên nêu chủ trương dùng chữ Nôm tiếng Việt thay chữ Hán trong công văn, chiếu chỉ, và cho dịch kinh sách chữ Hán sang chữ Nôm. Chủ trương này về sau, vào cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung  光 中 (Nguyễn Huệ  阮 惠, 1753 – 1792) cũng lại đề ra, song đều chưa kịp thực hiện. Bản thân Hồ Quý Ly cũng trước thuật bằng chữ Hán và sáng tác thơ văn chữ Nôm. Nhưng tất cả đều bị nhà Minh tiêu hủy. Sau này, khi thoát khỏi ách thống trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi đã thu thập lại được 30 bài thơ chữ Nôm của ông, nhưng rồi đến lượt Nguyễn Trãi bị nạn, tất cả đều đã thất lạc.

Như vậy, trong suốt hai thế kỷ XIII và XIV, là thời kỳ mở đầu cho nền văn học chữ Nôm, đến nay chỉ còn lại 4 tác phẩm: 1 bài ca và 1 bài phú của Trần Nhân Tông, 1 bài phú của Huyền Quang và 1 bài phú của Mạc Đĩnh Chi. 

2. THƠ NÔM “HÀN LUẬT”

Thơ Nôm “Hàn luật” (cải biến từ hai thể “thất ngôn tứ tuyệt” và “thất ngôn bát cú” của thể thức thơ Đường) đã xuất hiện từ thời sơ khai, có thể bắt đầu từ Hàn Thuyên. Song ngày nay chỉ có thể nhận diện thể thơ này qua các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và hội thơ Tao Đàn, và sau đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Trãi  阮 廌 (1380 – 1442)hiệu là Ức Trai ( 抑齋 ) thi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) năm 1400 ngay sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, và được giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Khi giặc Minh xâm chiếm, ông bị quản thúc ở Thăng Long, sau thoát ra, lẩn tránh nhiều nơi, cuối cùng đến với Lê Lợi ( 黎 利), vạch chiến lược chống quân Minh trên chiến trường cũng như trong giao dịch thư từ. Sau thắng lợi, ông thay minh chủ viết bài Bình Ngô đại cáo ( 平 吳 大 告 ) bằng Hán văn, một bản “thiên cổ hùng văn” của dân tộc Việt Nam. Dưới triều Lê Thái Tổ  黎 太 祖 (Lê Lợi), Nguyễn Trãi được trọng dụng. Nhưng sau khi Lê Lợi mất, triều đình lục đục, gây bè kéo cánh, khiến Nguyễn Trãi khó bề được yên thân. Ông bèn xin về hưu trí ở Côn Sơn. Cuối năm 1442, vua trẻ Thái Tông ghé thăm trại Lệ Chi Viên của ông, đột nhiên bị cảm chết, ông cùng cả gia tộc liền bị khép tội và chịu án “tru di tam tộc”. Mãi 20 năm sau, mới được vua Lê Thánh Tông xuống chiếu rửa oan cho ông.

Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Ông có một sự nghiệp trước tác đồ sộ, về nhiều lãnh vực. Ông làm nhiều thơ, bằng Hán văn và cả bằng chữ Nôm. Sau khi ông bị hại, tác phẩm của ông bị thất tán nhiều nơi. Đến năm 1467, vua Lê Thánh Tông cử người (Trần Khắc Kiệm  陳 克 儉) sưu tầm di cảo của ông, nhờ đó mới giữ một phần những tác phẩm quý giá của ông. Dựa vào kết quả sưu tầm của Trần Khắc Kiệm ở thế kỷ XV, Dương Bá Cung (  楊 伯 恭)  ở thế kỷ XIX đã bỏ ra hàng chục năm tiếp tục sưu tầm, chỉnh lý để đến năm 1868 cho khắc in bộ Ức Trai di tập ( 抑 齋 遺 集) trong đó có  Quốc âm thi tập ( 國 音 詩 集) gồm 254 bài thơ Nôm. Có thể tập thơ này vẫn chưa phải là toàn bộ những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, nhưng đây chính là tập thơ chữ Nôm đầu tiên còn lại đến ngày nay, và nó chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong văn học sử Việt Nam.

Thơ Nôm Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu tha thiết của ông dành cho nước cho dân với tinh thần nhân nghĩa sâu sắc, đồng thời cũng có cả nỗi thao thức dằn vặt từ cảnh ngộ riêng tư, một cái tôi trữ tình mang màu sắc của cả Nho, Phật và Lão. Tiếng Việt trong thơ giàu hình tượng, ngữ liệu dân gian được sử dụng thích đáng. Hình thức thơ tuy phỏng theo cách luật thơ Đường, nhưng có nhiều biến cải: Trong một bài tứ tuyệt hay bát cú, nhiều khi dùng xen những câu 6 tiếng, ở những vị trí không cố định. Nhịp thơ Đường thường ngắt theo kiểu 4-3, còn ở đây có cả cách ngắt nhịp 3-4, 3-3, một lối ngắt nhịp phổ biến của thi ca dân gian người Việt. Đây phải chăng chính là lối thơ “Hàn luật” mà Nguyễn Thuyên là người khởi xướng. Để minh họa cho thể thơ này, xin trích lục một bài thơ tứ tuyệt của Nguyễn Trãi:

 

Liên hoa (Hoa sen)

 淋 洳 拯 变 /卒 和 清  

 Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh              

君 子 困 堪/ 所名

Quân tử khôn kham được thửa danh    

/   

Gió đưa hương, đêm nguyệt tạnh          

/

Riêng làm của, có ai tranh     

Hồng Đức quốc âm thi tập ( 洪德國音詩集). Đây là một tuyển tập thơ Nôm đầu tiên ở Việt Nam, gồm sáng tác của nhà vua đương thời là Lê Thánh Tông  黎 聖 宗 (Lê Tư Thành  黎 思 成 , 1442 – 1497) và một số triều thần (được gọi là “Hội Tao Đàn”), là kết quả của phong trào sáng tác thơ Nôm ở cung đình do nhà vua khởi xướng. Tập thơ sao chép nhiều lần, theo bản hiện còn (AB.292) gồm 283 bài, không ghi rõ tác giả từng bài, trong đó có lẫn một số bài của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Toàn tập thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, nhưng cũng có bài pha “lục ngôn” theo kiểu “Hàn luật” của Việt Nam. Nội dung nặng về những đề tài “cao quý”, vịnh người vịnh cảnh, thấm đậm tư tưởng Nho gia. Tuy nhiên, đây là thời thái bình thịnh trị, nên tập thơ cũng toát lên niềm lạc quan, tự hào dân tộc và thiện chí trau giồi ngôn ngữ dân tộc của vua tôi nhà Lê.

Nguyễn Bỉnh Khiêm  阮 秉 謙 (1491 – 1585) sống chủ yếu vào thế kỷ XVI. Ông thi đỗ Trạng nguyên năm 1535 và làm quan với nhà Mạc. Ông chán ghét bọn gian thần, dâng sớ xin chém lộng thần, nhưng vua không nghe. Ông thác bệnh về quê. Nhưng sau vì hoàn cảnh bó buộc, ông lại ra làm quan cho đến năm 70 tuổi mới thực sự từ quan. Ông dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, ngồi dạy học trò. Ông là người được cả ba thế lực Mạc, Trịnh, Nguyễn thời bấy giờ tôn trọng, thường đến hỏi về những việc hệ trọng.

Nguyễn Bỉnh Khiêm có làm thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. Về thơ Nôm, ông còn để lại tập Bạch Vân quốc ngữ thi 白 雲 國 語 詩). Tuy nhiên, nguyên cảo thất lạc, các bản sao không thống nhất, lại lẫn lộn một số bài của Nguyễn Trãi, trong đó có khoảng 170 bài là thực sự của ông. Thơ quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ yếu theo thể cách Đường luật, đôi khi pha những câu “lục ngôn”. Đây có thể là những bài thơ Nôm Đường luật cuối cùng có xen lẫn câu thơ lục ngôn với lối ngắt nhịp 3-4. Về sau này có rất nhiều nhà thơ viết theo thể Đường luật đã không tiếp tục sử dụng các câu lục ngôn như thế nữa, trừ một số bài tương truyền là của nữ sĩ Hồ Xuân Hương [xem dưới]. Tập thơ viết khi tác giả ở ẩn nên bao trùm không khí an nhàn ẩn dật, yêu quý thiên nhiên, xa lánh bụi đời, tuy không dứt lòng thương nước lo đời, quan tâm thế sự.

3. DIỄN CA LỊCH SỬ

Diễn ca lịch sử” là những tác phẩm thơ Nôm trường thiên, mà phần lớn nội dung đều dựa vào quốc sử cùng với truyền thuyết dân gian. Diễn ca lịch sử sử dụng hai thể thơ dân tộc: Một là thể “lục bát” (mỗi khổ hai câu: 6 – 8 tiếng) với những tác phẩm tiêu biểu như: Việt sử diễn âm, Thiên Nam ngữ lục, Đại Nam quốc sử diễn ca. Hai là thể “song thất lục bát” (mỗi khổ bốn câu: 7 – 7 – 6 – 8  tiếng, các câu “thất ngôn” đều ngắt nhịp 3 – 4), với tác phẩm tiêu biểu là Thiên Nam minh giám.

Việt sử diễn âm ( 越 史 演 音). Tác phẩm gồm 2.332 câu (dòng), trong đó có 2.278 câu theo thể “lục bát”, còn lại là những câu thất ngôn xen vào ở phần cuối. Chưa rõ tác giả là ai, nhưng lời thơ cho thấy tác giả đã sống và viết tác phẩm này vào khoảng giữa thế kỷ XVI, dưới thời nhà Mạc. Nội dung tác phẩm là kể lại lịch sử Việt Nam qua các triều đại từ thời sơ thủy đến thời nhà Mạc, qua đó thể hiện cảm xúc của mình đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử.  Điều đáng lưu ý là với tác phẩm này, lần đầu tiên xuất hiện thể loại diễn ca lịch sử, một thể loại cực kỳ quan trọng trong văn học chữ Nôm, được phát triển mạnh mẽ vào những thế kỷ sau đó. Đây có thể cũng là lần đầu tiên có một tác phẩm chữ Nôm dài hơi viết theo thể “lục bát”, một thể thơ thuần túy của dân tộc Việt Nam.

Thiên Nam minh giám ( 天 南 明 監). Hiện chưa rõ tác giả là ai, có thể là do một nhà Nho trong tôn thất chúa Trịnh vâng mệnh phủ chúa mà viết. Tác phẩm hoàn thành vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Cũng là một tác phẩm diễn ca lịch sử Việt Nam, nhưng viết theo thể thơ Việt “song thất lục bát”, dài hơn 938 câu. Đây là lần đầu tiên có một tác phẩm chữ Nôm dài hơi viết bằng thể “song thất lục bát”.Với thể loại diễn ca lịch sử thì tác phẩm này dường như là duy nhất hiện có được viết theo thể thơ này. Nội dung tác phẩm chú yếu nêu gương anh hùng nghĩa sĩ nước Nam, thiên về phẩm bình nhân vật lịch sử.

Thiên Nam ngữ lục ( 天 南 語 錄). Chưa rõ tác giả là ai, có thể là một nhà Nho, nhiều lần thi hỏng, sống ngao du ẩn dật. Về già mới viết sách này theo yêu cầu của chúa Trịnh, nhưng sau rồi cũng không dâng lên chúa, giữ lại làm của báu gia đình. Tác phẩm hoàn thành vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Hiện có 6 dị bản, trong đó bản chép tay đầu thế kỷ XVIII mang ký hiệu AB.478 là cổ nhất và đầy đủ hơn cả. Cũng như Việt sử diễn âm thời nhà Mạc trước đây vào thế kỷ XVI hoặc Đại Nam quốc sử diễn ca ( 大 南 國 史 演 歌) sau này ở thế kỷ XIX (1870), Thiên Nam ngữ lục thuộc loại diễn ca lịch sử, viết theo thể “lục bát”. Nhưng đây là tác phẩm thành công nhất về nhiều phương diện, đặc biệt là ngôn ngữ văn học tiếp cận với lời nói dân gian, giàu hình tượng và cảm xúc với khối lượng phong phú các thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt. Điều quan trọng cần đặc biệt lưu ý là Thiên Nam ngữ lục tác phẩm lục bát  (văn vần nói chung) có độ dài lớn nhất trong văn học Việt Nam. Tác phẩm gồm 8.136 câu thơ “lục bát”, kèm theo 2 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú và 31 bài vừa thơ vừa sấm ngữ bằng chữ Hán. Có thể nói đây là lần đầu tiên thể thơ “lục bát” được thử thách trong một tác phẩm thi ca trường thiên, chứng minh cho khả năng biểu đạt vô tận của thể thơ, chuẩn bị cho nó tiến tới hoàn thiện thêm trong hàng loạt truyện thơ Nôm trường thiên ở những thế kỷ sau.

Đại Nam quốc sử diễn ca ( 大 南 國 史 演 歌 ) hiện được biết đến là một tác phẩm diễn ca lịch sử viết theo thể lục bát, mà tiền thân của nó có thể là tập Sử ký quốc ngữ ca ( 史 記 國 語 歌 ) của một tác giả khuyết danh, được nộp vào Viện Tập hiền của nhà Nguyễn. Tập sử ca này đã được Lê Ngô Cát  吳 黎 吉 (quê Hà Tây, không rõ năm sinh năm mất, đỗ Cử nhân năm 1848 thời Tự Đức, làm quan ở Quốc sử quán) sửa chữa, bổ sung, làm thành tác phẩm mới dài 3.774 câu lục bát. Đến khi Phạm Đình Toái  範 廷 碎 (quê Nghệ An, không rõ năm sinh năm mất, đỗ Cử nhân năm 1843 thời Thiệu Trị, làm quan đến Hồng Lô tự khanh) đọc lại, cắt bỏ nhiều đoạn rườm rà, bổ sung những chỗ thiếu sót và sắp xếp lại, làm thành bản mới, gọn hơn, gồm 2.054 câu lục bát, đặt tên là Đại Nam quốc sử diễn ca, được khắc ván năm 1870. Tác phẩm này được soạn theo lệnh của vua Tự Đức, nên trong đó có không ít thiên kiến của nhà Nguyễn đối đối với các nhân vật và sự kiện lịch sử trước mình, nhất là với triều Tây Sơn . Tuy nhiên, những trang viết về thời Hồng Bàng, thời Hai Bà Trưng, về các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, quân Minh đã gây được không khí hào hùng, mang đậm tinh thần tự hào dân tộc.

4. NGÂM KHÚC (THỂ NGÂM)

“Ngâm khúc” là một thể loại thơ Nôm trường thiên. Đó là những tác phẩm trữ tình dài hơi, chuyên sử dụng thể thơ “song thất lục bát” để phô diễn tình cảnh và tâm tư của nhân vật trữ tình. Có 2 tác phẩm tiêu biểu cho thể loại này là Chinh phụ ngâm khúcCung oán ngâm khúc. Ngoài ra còn có:  Ai tư vãn ( 哀思 輓), gồm 164 câu song thất lục bát, là tiếng khóc và lời thở than của công chúa Lê Ngọc Hân  黎 玉 昕 (1770 – 1799), vợ vua Quang Trung, sau cái chết đột ngột của nhà vua; Tự tình khúc  ( 敘 情 曲) của Cao Bá Nhạ  高 伯 迓 (thế kỷ XIX) gồm  608 câu song thất lục bát, là lời kêu than của tác giả  trong thời gian bị cầm tù vì liên quan với vụ án của chú mình là Cao Bá Quát   高 伯 适 (1808 – 1885).

Chinh phụ ngâm khúc ( 征 妇 吟 曲). Nguyên tác Hán văn của nhà thơ Việt Nam Đặng Trần Côn ( 鄧 陳 琨, thế kỷ XVIII), dài 438 câu theo thể “trường đoản cú”, xuất hiện năm 1741. Liền ngay sau đó lần lượt có 4 bản dịch sang thơ Nôm. Bản dịch thành công nhất được lưu hành rộng rãi, theo ván khắc năm 1902, gồm 412 câu thơ, thể “song thất lục bát”. Bản này tương truyền là do bà Đoàn Thị Điểm ( 段 氏 點 , 1705 – 1748) chuyển dịch. Song gần đây có nhiều người nghiêng về phía khẳng định Phan Huy Ích ( 潘 輝 益, 1750 – 1822) mới là dịch giả của bản hiện đang lưu hành.

Chinh phụ ngâm là một lời độc thoại nội tâm mà nhân vật trữ tình duy nhất trong tác phẩm là một người vợ có chồng gặp thời loạn phải ra đi chinh chiến. Lý tưởng lập công danh không ngăn được nỗi niềm cô quạnh và ước mong được sống hạnh phúc cùng chồng nơi quê nhà.  Đây có thể là tác phẩm ngâm khúc đầu tiên mà thành công của nó chứng minh cho khả năng của thể “song thất lục bát” trong việc phô diễn những cảnh tượng bi tráng và tâm trạng sầu muộn triền miên của nhân vật trữ tình. Để minh họa cho thể thơ này, xin  trích một khổ thơ mở đầu tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc (theo bản khắc AB.26, năm 1902):

糓 俼 坦 常 欺 陿 桙  

Nhẽ  trời đất thường khi gió bụi

客 牤 紅 蜫 餒 迍 邅  

Khách má hồng nhiều nỗi truân chiên

籑 箕 深 瀋 層 珕  

Xanh kia thăm thẳm tầng trên

為 埃 蔐 孕 朱 戼 餒 尼  

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này

(Nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn:

天 地 風 塵  .紅 顏 多 迍   

Thiên địa phong trần, hồng nhan đa truân

悠 悠 彼 蒼 兮 誰 造 因

Du du bỉ thương hề, thùy tạo nhân)

Cung oán ngâm khúc (  宮 怨 吟 曲). Tác giả khúc ngâm là Nguyễn Gia Thiều  阮嘉韶 (1741 – 1798), sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, là cháu ngoại chúa Trịnh Cương ( 鄭 綱, ? – 1729). Ông học rộng, am hiểu nhiều môn nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trang trí. Cung oán ngâm khúc theo bản in khắc ván năm 1902 dài 356 câu thơ “song thất lục bát”.

Khúc ngâm trường thiên này là lời tự bạch nỗi niềm cô đơn chán chường của người cung nữ bị bỏ rơi, đồng thời cũng là lời gửi gắm những suy tư của tác giả về nhân sinh và thế giới. Tác phẩm rất giàu sức biểu cảm: có tiếng nói trữ tình từ cảnh ngộ cá nhân của nhân vật trữ tình, vừa có tiếng nói triết lý về kiếp nhân sinh từ những suy tư của tác giả. Với tác phẩm này, thể “song thất lục bát” đã đi đến chỗ hoàn thiện ở mức đỉnh điểm: cách luật hoàn toàn chặt chẽ, chuẩn mực, không chấp nhận những ngoại lệ như ở các tác phẩm khác. Ngôn ngữ văn học ở đây được gọt giũa kỹ càng, biện pháp điệp từ sử dụng rất khéo léo, tạo được cảm xúc.

5. TRUYỆN NÔM (THỂ TRUYỆN)

Đây là một thể loại văn học viết theo văn vần, có cốt truyện (tức là một loại tiểu thuyết văn vần), rất phát triển ở Việt Nam (mà ở Trung Hoa hầu như không có), đặc biệt thịnh hành từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX. Có tới hàng trăm tác phẩm thuộc loại này, mà đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Nôm sử dụng thể thơ “lục bát” là chủ yếu, song cũng có một số ít tác phẩm dùng thể Đường luật.

“Truyện Nôm Đường luật” thường dựa theo một cốt truyện đơn giản để viết thành một loạt các bài thơ “thất ngôn bát cú” ( 七 言 八 句 ) liên hoàn. Loại này xuất hiện khá sớm, ngay từ thế kỷ XVI, nhưng tác phẩm không nhiều, giá trị văn học không cao. Nay chỉ còn lại 3 tác phẩm là:  truyện Tô Công phụng sứ  ( 蘇 公 奉 使 傳 ), xuất hiện vào thế kỷ XVI,  lấy tích Tô Vũ đi sứ nước Hồ, toàn văn gồm 24 bài thơ bát cú luật Đường. Cũng ở thế kỷ XVI có Truyện Vương Tường 王 嬙 傳) [xem dưới], sang thế kỷ XVII có truyện Lâm tuyền kỳ ngộ ( 林 泉 奇 遇 傳 )còn gọi là truyện Bạch Viên Tôn Các( 白 猿 孫 恪 傳 ) gồm 146 bài thơ thất ngôn bát cú và 1 bài tứ tuyệt. Có thể lấy Truyện Vương Tường làm đại diện:  

Truyện Vương Tường ( 王 祥傳 ). Cốt truyện mượn từ tích đời Hán, viết về cuộc đời của Vương Tường (tức Vương Chiêu Quân  王 昭 君) được tuyển làm cung nữ dưới thời Hán Nguyên Đế  漢 元 帝, vì không đút lót nên thợ vẽ Mao Diên Thọ  毛 延 壽 vẽ xấu đi, khiến nhà vua không để ý đến. Nhân có vua nuớc Hồ cầu thân, vua Hán liền đem Chiêu Quân gả cho vua Hồ. Đến lúc ấy vua Hán mới biết nàng đẹp, lấy làm tiếc. Sang đến cung vua nước Hồ, nàng tự vẫn. Đây là một truyện tiêu biểu cho loại “Truyện Nôm Đường luật”. Không rõ tác giả là ai. Giới nghiên cứu ước đoán tác phẩm này ra đời khá sớm, vào khoảng đầu thế kỷ XVI. Truyện gồm 49 bài thơ “thất ngôn bát cú”, trong đó có 38 bài chính truyện, 10 bài là lời than tiếc của người đời và 1 bài kết luận. Câu thơ trau chuốt, bút pháp thơ Đường vững vàng. Song có thể là do hạn chế của khuôn khổ thơ cách luật “thất ngôn bát cú”, khó diễn tả liền mạch cốt chuyện, nên kết cấu có phần rời rạc. Đây là nhược điểm chung của loại “Truyện Nôm Đường luật”  khiến nó không phát triển và tỏ ra “lép vế” hẳn so với loại “Truyện Nôm lục bát”.    

“Truyện Nôm lục bát” chỉ dùng thể “lục bát”, đôi khi có thể xen kẽ vài bài thơ Đường luật, hoặc một số câu thất ngôn. Cốt truyện có thể lấy từ lịch sử và văn học Trung Hoa, hoặc lấy từ lịch sử và sự tích dân gian Việt Nam. Số lượng truyện Nôm lục bát rất phong phú, hiện còn hàng trăm tác phẩm, nhiều truyện đạt tới giá trị nghệ thuật cao. Trong số các truyện Nôm lục bát hơn phân nửa tác phẩm không mang tên tác giả (thường được gọi là “Truyện Nôm khuyết danh”). Có thể phân các “truyện Nôm lục bát” thành 2 loại như sau:

Một loại là những truyện mang đậm màu sắc dân gian, kể chuyện bình dị, lời thơ gần với khẩu ngữ , tác giả  không rõ là ai, thường được gọi là “Truyện Nôm khuyết danh” hoặc “Truyện Nôm bình dân”. Những truyện loại này hiện còn hơn 100 tác phẩm. Tiêu biểu cho loại này là những tác phẩm như: Phạm Tải Ngọc Hoa ( 範 載 玉 花 ), thế kỷ XVIII, gồm 872 câu lục bát; Tống Trân Cúc Hoa ( 宋 珍 菊 花 )  [xem dưới]; Phạm Công Cúc Hoa    ( 範 公 菊 花 )  [xem dưới]; Phương Hoa芳 花 ), thế kỷ XVIII-XIX, theo truyện kể dân gian, gồm 1152 câu lục bát, Thạch Sanh ( 石 生 ), thế kỷ XVIII, theo truyện cổ tích Việt Nam, gồm 1812 câu lục bát, v.v. Có thể lấy truyện Tống Trân Cúc Hoa Phạm Công Cúc Hoa làm đại diện:

Tống Trân Cúc Hoa ( 宋 珍 菊 花 ) là câu chuyện thuần túy Việt Nam, không lấy tích từ Trung Hoa. Tác phẩm kể chuyện đôi trái gái nhà nghèo Tống Trân và Cúc Hoa, vượt qua mọi gian nan thử thách từ phía các thế lực quan lại và quý tộc, bằng tất cả lòng kiên trinh và tài năng của mình, để bảo vệ tình yêu. Trong truyện còn kể chuyến đi sứ của Tống Trân, thể hiện tài năng và lòng tự tôn dân tộc của chàng trong việc bang giao. Mặc dù bị chàng chối từ, nhưng công chúa nước Tàu vì quá yêu chàng, đã vượt bể sang nước Việt tìm chàng. Và Cúc Hoa đã vui lòng để cho chàng cưới thêm công chúa Trung Hoa. Truyện gồm 1690 câu thơ lục bát, xuất hiện vào khoảng từ giữa thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX. Ngôn ngữ văn học trong tác phẩm rất gần với lời ăn tiếng nói của dân gian. Hầu như không dùng điển cố và rất ít từ Hán Việt. Trong truyện nhiều khi mang đậm nét truyện kể truyền miệng, do đó có phần thiếu trau chuốt.

Phạm Công Cúc Hoa( 範 公 菊 花 ) kể chuyện ở nước Trịnh nào đó, nhưng tên làng tên đất cùng quang cảnh non nước, cung cách sinh họat đều là thực tế ở Việt Nam. Đây là một truyện Nôm có dung lượng lớn, gồm 3.934 câu lục bát (theo bản in ván khắc năm 1889), có thể là tác phẩm dài hơi nhất trong số các truyện Nôm hiện còn. Phạm Công là trẻ mồ côi, dắt mẹ đi ăn xin, rồi may mắn được con gái quan phủ là Cúc Hoa đem lòng yêu, và được kết duyên vợ chồng. Song vì tài vì mệnh, vì lòng kiên trinh, họ phải chịu lắm nỗi gian nguy, vợ chồng con cái sinh ly tử biệt. Truyện phản ánh những quan hệ vợ chồng, anh em, mẹ ghẻ con chồng v.v. rất sâu sắc và cảm động. Đây hầu như là truyện Nôm duy nhất mô tả cảnh âm phủ với những tình tiết cụ thể sinh động theo trí tưởng tượng dân gian trong mối liên tưởng với thực trạng xã hội ở trên dương thế.

Một loại khác là những tác phẩm do các văn nhân sáng tác, văn liệu tiếp thu từ văn hiến Trung Hoa, ngữ liệu tận dụng vốn thành ngữ, tục ngữ và ca dao dân gian. Bởi vậy, so với loại “bình dân” ở trên, thì ở loại này ngôn ngữ văn học được trau chuốt hơn, có sức diễn đạt phong phú, đạt tới giá trị nghệ thuật cao hơn. Tiêu biểu cho loại này là Truyện Kiều của Nguyễn Du [xem dưới] . Ngoài ra có thể kể một loạt tác phẩm như: Song Tinh Bất Dạ ( 雙 星 不 夜 ) của Nguyễn Hữu Hào  阮 有 豪 (? – 1713), lấy cốt truyện từ tiểu thuyết Định tình nhân 定 情 人) ở Trung Hoa, gồm 2.396 câu; Hoa tiên ( 花 箋 ) của Nguyễn Huy Tự  阮 輝 嗣 (1743 – 1790), lấy cốt truyện từ Hoa tiên ký花 箋 記 ) ở Trung Hoa, gồm 1.532 câu; Sơ kính tân trang ( 梳 鏡 新 妝 ) của Phạm Thái  範 彩 (1777 – 1813), là tự truyện về tình duyên trắc trở của tác giả, gồm 1.482 câu lục bát và một số bài thơ Đường luật;  Phan Trần (  潘 陳 ) lấy cốt truyện từ truyện ký Trung Hoa, chưa rõ danh tính tác giả, xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX, gồm 938 câu lục bát; Lý Văn Phức  李 文 馥 (1785 – 1849) là tác giả của một số truyện nổi tiếng: Tây sương ( 西 廂 ) gồm 1.744 câu lục bát, truyện dựa theo hí khúc Tây sương ký ( 西 廂 記 ) của Vương Thực Phủ  王 實 甫thời nhà Nguyên; Nhị độ mai ( 二 度 梅 ) gồm 2.826 câu lục bát, dựa theo tiểu thuyết Trung Hoa Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai ( 忠 孝 節 義 二 度 梅 ); Ngọc Kiều Lê玉 翹 黎 ), gồm 2.926 câu lục bát, cũng có thể lấy cốt truyện từ một tiểu thuyết ở Trung Hoa; Nguyễn Đình Chiểu  阮 廷 炤 (1822 – 1888) là tác giả của hai truyện Nôm nổi tiếng khác: Lục Vân Tiên ( 陸雲仙)  [xem dưới] và Dương Từ Hà Mậu楊 慈 何 茂 ), gồm 3.456 câu lục bát – một độ dài lớn nhất trong số các truyện Nôm hiện còn. Cả hai truyện đều là sáng tác của nhà thơ, không lấy cốt truyện từ Trung Hoa.

Truyện Kiều ( 翹 傳) là tác phầm chủ yếu của Nguyễn Du  阮 攸 (1765 – 1820), nhà đại thi hào dân tộc Việt Nam. Sinh trưởng trong một gia đình danh gia vọng tộc (cha làm quan đến Tể tướng, anh làm quan đến Tham tụng), nhưng gặp nhiều trắc trở. Năm 1783 thi Hương đậu Tam trường, sau không thi tiếp nữa. Thuở nhỏ ở Thăng Long, lớn lên gặp thời tao loạn (từ khởi nghĩa Tây Sơn đến Nguyễn Ánh khôi phục lại Nhà Nguyễn) phải nay đây mai đó, cuối cùng về quê ở Nghệ An, sống gần với dân gian. Có ra làm quan với nhà Nguyễn một thời gian, từng được cử đi sứ nhà Thanh. Nguyễn Du có một sự nghiệp sáng tác văn học đồ sộ, cả bằng chữ Hán và bằng chữ Nôm. Riêng về văn chương chữ Nôm, ngoài Truyện Kiều, ông còn để lại một vài tác phẩm ngắn, mà tiêu biểu là bài Văn tế thập loại chúng sinh (十 類 眾 生 祭 文 ), một bài văn chiêu hồn đối với mọi kiếp người đã chết trong bất cứ cảnh ngộ nào, thể hiện lòng thương người bao la của nhà thơ.

Truyện Kiều là cách gọi tắt của người đời sau, nguyên tên do tác giả đặt là Đoạn trường tân thanh ( 斷 腸 新 聲 ). Cốt truyện dựa theo tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện  ( 金 雲 翹 傳 ) của Thanh Tâm Tài Nhân  青 心 才 人 ở Trung Hoa. Nhưng nếu như tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân không gây được chú ý ở Trung Quốc, thì Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du là tác phẩm văn học kiệt xuất, ngay từ khi vừa ra đời (khoảng 1804 – 1809) đến nay đã được mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam yêu thích, và được thế giới nhiệt liệt đón nhận, được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Nguyễn Du là người Việt Nam thứ hai (thế hệ sau Nguyễn Trãi) được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

Truyện Kiều kể chuyện 15 năm lưu lạc của nhân vật chính là nàng Thúy Kiều  翠 翹 . Thúy Kiều là một tiểu thư xinh đẹp, tài hoa, có tình yêu tự do và trong sáng với chàng thư sinh Kim Trọng  金 重 . Chế độ phong kiến suy tàn với đầy rẫy những thế lực (đặc biệt là quan lại liên kết với thương gia) đã xô đẩy nàng vào cảnh đời ca kỹ, tôi đòi. Toàn bộ câu chuyện với mọi diễn biến về tình tiết và tâm lý nhân vật làm thành bản cáo trạng đối với những bất công, tàn bạo trong xã hội, là tiếng kêu xé lòng đối với tình yêu và thân phận những con người bị chà đạp, là ước vọng vươn tới giành lại quyền sống cho họ. Tác phẩm thấm đượm tinh thần nhân đạo sâu sắc, với bút pháp hiện thực giàu chất trữ tình.

Bản in cũ nhất và còn lại trọn vẹn cho đến nay là bản Liễu Văn Đường 1871 và bản Duy Minh Thị 1872. Truyện Kiều là tác phẩm truyện Nôm có độ dài lớn, gồm 3.254 câu thơ, theo thể “lục bát”. Đây là tác phẩm thành công và tiêu biểu về nhiều phương diện, là đỉnh cao của văn học Việt Nam thời Trung đại. Riêng về mặt ngôn ngữ thơ, tác giả đã rất nhuần nhuyễn trong việc sử dụng văn liệu Trung Hoa kết hợp với ngữ liệu dân gian Việt Nam. Tiếng Việt trong Truyện Kiều đánh dấu cho trình độ tinh luyện, chuẩn mực và giàu sức biểu hiện. Đây là tác phẩm truyện thơ Nôm trường thiên mà trong đó thể thơ “lục bát” đạt tới mức điển phạm, chuẩn mực, không chấp nhận bất cứ những gì thô sơ, vụng về, phá cách như trong các truyện Nôm khác. Để minh họa, xin trích hai khổ đầu (4 câu) từ văn bản Truyện Kiều khắc in năm 1871:

炧 璏 瑉 憥 圡 些  

Trăm năm trong cõi người ta

   岲 才 岲 命 窖 卥 唙饒

 Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

惐 戈 沒 局 帀 盙     

Trải qua một cuộc bể dâu

仍 調 饢 獕 乑 僘 妿 峼   

 Những điều trông thấy đã đau đớn lòng

Lục Vân Tiên ( 陸雲 仙) là tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu  阮 廷 炤 (1822 – 1888). Ông nguyên quán tỉnh Thừa Thiên, sinh tại Gia Định (nay thuộc Tp Hồ Chí Minh), mất tại Bến Tre. Đỗ Tú tài (1843) tại trường thi Gia Định, sau ra Huế chờ kỳ thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa thi thì được tin mẹ mất, ông vội về Gia Định chịu tang, trên đường vì thương khóc nhiều, ông bị mù cả hai mắt. Truyện Lục Vân Tiên ra đời sau đó ít lâu, và mau chóng được độc giả yêu thích, nhất là trong dân chúng Nam Bộ. Tác phẩm này có rất nhiều bản viết tay và bản in khác nhau. Riêng bằng chữ Nôm hiện có tất cả 7 bản, trong đó bản Lục Vân Tiên truyện ( 蓼 雲 仙 傳 ) do Duy Minh Thị cho khắc ván in tại Gia Định năm Giáp Tuất (1874) là bản xưa nhất còn lại. Theo bản này thì toàn văn gồm có 2176 câu lục bát và 1 bài  “thất ngôn bát cú” chữ Hán.

Lục Vân Tiên, nhân vật chính trong truyện là một chàng trai trí dũng song toàn, đề cao trung hiếu tiết nghĩa. Trải qua bao gian nan thử thách, chàng đã được hưởng hạnh phúc cùng người yêu chung thủy là Kiều Nguyệt Nga. Hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện trong truyện luôn luôn đối kháng rạch ròi, và cuối cùng những người chính nhân quân tử giúp dân cứu nước phải hoàn toàn chiến thắng, trường trị kẻ gian manh độc ác, lừa thầy phản bạn. Có thể coi Lục Vân Tiên là một bản trường ca đề cao chính nghĩa và những đạo đức đáng quý đáng trọng trong đời sống người dân Việt Nam. Mặc dù là một nhà Nho, nhưng ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Đình Chiểu đậm màu sắc dân gian, lời thơ gần với giọng điệu nói và kể, rất bình dị và chất phác.

6. PHÚ NÔM  và VĂN TẾ NÔM

Trong văn học Việt Nam (cũng như ở Trung Hoa), phú () là một thể văn có từ rất rất sớm, có phú chữ Hán và phú chữ Nôm. Phú chữ Nôm có thể bắt đầu từ thời Trần (thế kỷ XIII), như hai bài phú đã nhắc đến ở trên của vua Trần Nhân Tông và sư Huyền Quang. Nội dung của phú Nôm thường ca ngợi cảnh sắc non sông, xưng tụng công tích anh hùng, hoặc phê phán trào lộng, nghị luận sự tích, nhân vật. Những tác phẩm và tác gia nổi tiếng về phú Nôm có thể kể: Phụng thành xuân sắc phú ( 鳳 城 春 色 賦 ) của Nguyễn Giản Thanh  阮 簡 青 (1482 – ?), Tịch cư ninh thể phú ( 僻 居 寧 體 賦 ) và Đại Đồng phong cảnh phú (大 同 風 景 賦 ) của Nguyễn Hàng  阮 杭  (thế kỷ XVI), Ngã Ba Hạc phú ( 我 巴 鶴 賦 ) của Nguyễn Bá Lân  阮 伯 燐 (1701 – 1785), Trương Lưu hầu phú ( 張 留 侯 賦 ), Quách Tử Nghi phú ( 郭 子 儀 賦 ) của Nguyễn Hữu Chỉnh  阮 有 整 (? – 1787), Tụng Tây Hồ phú ( 訟 西 湖 賦 ) của Nguyễn Huy Lượng  阮 輝 涼 (? – 1808), Chiến tụng Tây Hồ phú ( 戰 訟 西 湖 賦 ) của Phạm Thái  範 彩 (1777 – 1813), Hàn nho phong vị phú ( 寒 儒 風 味 賦 ) của Nguyễn Công Trứ  阮 公 著  (1778 – 1858), Tài tử đa cùng phú才 子 多 窮 賦 ) của Cao Bá Quát  高 伯 适 (1808 – 1885), v.v.

Văn tế ( 祭 文) chữ Nôm với tư cách là những tác phẩm văn học còn lại với thời gian thường không chỉ mang chức năng nghi lễ tín ngưỡng, mà đó là những tác phẩm chứa chan tình cảm với những người đã khuất, những người thân thiết của tác giả hoặc những anh hùng liệt sĩ, những người có số phận bất hạnh trong xã hội. Văn tế được viết bằng nhiều thể thức khác nhau, có thể là văn biền ngẫu, có thể là song thất lục bát. Song phần lớn là những bài văn tế viết theo thể phú. Có nhiều bài văn tế Nôm nổi tiếng của các tác giả như: Văn tế chị ( 祭 姊文) của Nguyễn Hữu Chỉnh (? – 1787), Văn tế thập loại chúng sinh (十 類 眾 生 祭 文) của Nguyễn Du (1765 – 1820), Văn tế Trương Quỳnh Như ( 祭 張 瓊 茹 文) của Phạm Thái (1777 – 1813), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc芹 勺 義 士 祭 文) của Nguyễn Đình Chiểu  阮 廷 炤  (1822 – 1888) v.v.

7. THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT

Văn nhân người Việt làm quen với cách luật thơ Đường từ rất sớm. Bước đầu thử mô phong thể thơ này để làm thơ tiếng Việt, các nhà thơ đã không theo sát thể thức Đường luật như khi làm thơ chữ Hán, mà có cải biến ít nhiều, tạo thành lối thơ Việt hóa “Hàn luật”. Lối thơ Đường luật Việt hóa này đã không được các thế hệ thi nhân đời sau kế thừa và phát huy. Từ thế kỷ XVII trở đi văn đàn Việt Nam hầu như vắng bóng các bài thơ Nôm “phá cách” như vậy (trừ một số bài tương truyền là của Hồ Xuân Hương, mang sắc thái trào phúng theo lối dân gian), thay vào đó là những bài thơ chữ Nôm tuân thủ nghiêm chỉnh cách luật thơ Đường.

Có thể nói rằng các nhà thơ Việt Nam thời trung đại ai cũng từng làm thơ Đường luật, chữ Hán và cả chữ Nôm. Tuy nhiên, không phải tác giả nào cũng thực sự thành công. Các nhà thơ để lại ấn tượng rõ nét nhất về thơ Nôm Đường luật  là Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương [xem dưới]. Ngoài ra còn phải kể đến: Bà Huyện Thanh Quan  婆 縣 清 觀  (tên thực là Nguyễn Thị Hinh  阮 氏 馨 , đầu thế kỷ XIX) với chùm bài thơ mang nặng tâm trạng hoài cổ; Mạc Thiên Tích  莫天 錫 (1706 – 1780) với tập Hà Tiên quốc âm thập vịnh ( 河 仙 國 音 十 詠 ); Phan Văn Trị  潘 文 治 (1830 – 1910) với nhiều bài thơ vịnh vật vịnh cảnh và 10 bài thơ họa chế giễu bọn văn nhân cam tâm theo giặc.

Hồ Xuân Hương  胡 春 香 (cuối XVIII đầu XIX). Cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa biết chính xác năm sinh năm mất cùng thời gian sáng tác của bà, cũng như chưa xác định được rõ toàn bộ tác phẩm của bà. Bà nổi tiếng là “bà chúa thơ Nôm”, với khoảng hơn 50 bài thơ Nôm luật Đường, được sưu tập và chép lại vào năm 1893. Trong số đó có lẫn một số bài của người khác. Gần đây phát hiện tập Lưu hương ký ( 留 香 記 ), trong đó có 24 bài thơ chữ Hán và 26 bài thơ chữ Nôm, ngờ rằng đó là thơ của Hồ Xuân Hương, song cũng chưa thật chắc chắn.

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nói về những cảnh ngộ riêng tư của người phụ nữ, những nỗi khổ và bất công mà họ phải hứng chịu: làm vợ lẽ, chửa hoang, góa chồng. Nhưng thái độ của bà là không kêu than, không bi lụy, mà với đầy đủ ý thức về giới tính, bà khuyên chị em hãy ngẩng cao đầu làm người, đòi lại quyền bình đẳng cho họ trong cuộc sống. Với giọng trào lộng, bà thách thức, trêu chọc những “hiền nhân quân tử” mà thực ra là lũ đàn ông dốt nát, ngây ngô, không đáng để phục tùng, tôn trọng. Bà được độc giả Việt Nam và thế giới đánh giá cao như là biểu tượng của tinh thần tự trọng giới tính và thách thức với tất cả những nỗi bất công mà người phụ nữ phải chịu đựng trong một xã hội phong kiến “trọng nam khinh nữ”.

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương tuân thủ nghiêm chỉnh thể cách Đường luật, nhưng bà đã phá tan hình thức “nghiêm trang” ấy bằng cách triệt để khai thác các biện pháp tu từ của tiếng Việt: ngôn ngữ đời thường tự nhiên được sử dụng thích hợp, cùng với cách chơi chữ song quan mập mờ giữa thanh và tục, khiến cho người đọc cảm thấy hứng thú như đi vào khám phá những điều bất ngờ ngay trong hàm nghĩa của từ ngữ câu thơ. Chính thơ Hồ Xuân Huơng mở đầu cho xu hướng thơ Nôm trào phúng ở các thế hệ nhà thơ sau bà. Cũng cần lưu ý là trong số những tác phẩm tương truyền là của Hồ Xuân Hương, có lẫn nhiều bài chưa hẳn là của bà (kể cả những bài mở đầu bằng một câu “lục ngôn”), mà có khả năng là của người đương thời hoặc đời sau làm thác lời bà. Những bài này càng mang đậm tính trào phúng và rất gần với dân gian.

Nguyễn Khuyến  阮 勸 (1835 – 1909) quê làng Yên Đổ, tỉnh Hà Nam. Ông đi thi nhiều lần không đỗ, nhưng đã đỗ thì đều đỗ đầu bảng: Thi Hương đậu Giải nguyên (1864), thi Hội đậu Hội nguyên (1871), thi Đình đậu Đình nguyên (cũng năm 1871). Nhân đó người ta thường gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ. Gặp lúc nước nhà bị thực dân Pháp xâm chiếm, ông không dám chiến đấu, nhưng cũng không muốn cộng tác với họ. Ông cố tìm cách lảng tránh việc quan, sống nơi đồng quê dân dã, song vẫn quan tâm thế sự, làm thơ gửi gắm tâm trạng. Ông làm nhiều thơ văn, cả Hán lẫn Nôm, hiện còn lại khoảng hơn 200 bài thơ chữ Hán và khoảng 100 bài thơ chữ Nôm. Thơ Nôm của Nguyễn Khuyến chủ yếu viết theo thể Đường luật, nhưng cũng có bài theo thể lục bát hoặc song thất lục bát.

Thơ Nôm Nguyễn Khuyến có nhiều bài mang màu sắc châm biếm thâm thúy , kín đáo. Ông chế giễu thói hư tật xấu đương thời, nhất là tệ tham lam, mất nhân cách trước thế lực đồng tiền. Đồng thời ông còn có một mảng thơ Nôm chuyên mô tả cảnh vật nông thôn, nói lên tâm tình của người dân quê trong cuộc sống hằng ngày. Đặc biệt, ông có chùm thơ mùa thu gồm ba bài Thu vịnh ( 秋 詠 ), Thu điếu ( 秋 釣) và Thu ẩm ( 秋 飲) rất đặc sắc, tả cảnh mùa thu thanh vắng nơi thôn dã với nỗi niềm cô quạnh của nhà thơ. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến bình dị, mang đậm màu sắc dân gian nhưng không kém phần trau chuốt.

Trần Tế Xương  陳 濟 昌 (1870 – 1907). Ông được học hành từ nhỏ, đi thi rất sớm, mãi lận đận trong khoa cử, nhưng chỉ đỗ Tú tài năm 24 tuổi mà thôi. Bởi đó người ta gọi ông là Tú Xương  秀 昌 . Ông sống một cuộc đời nghèo khổ của một trí thức Nho học giữa một thành thị nhỏ (Nam Định) vào lúc chế độ phong kiến đã suy tàn và thực dân Pháp bắt đầu công cuộc “bảo hộ”. Tú Xương sáng tác rất nhiều, nhưng không ghi chép lại, nên thất lạc không ít. Hiện có tập Vị thành giai cú tập biên ( 渭 城 佳 句 集 編 ) trong đó chép nhiều thơ Nôm của ông, nhưng cũng có nhiều bài của người khác. Hầu hết sáng tác của Tú Xương đều bằng tiếng Việt. Trong số hơn 100 bài thơ Nôm còn lại của ông, có bài theo thể lục bát, có bài theo thể song thất lục bát, nhưng phần nhiều là làm theo thể Đường luật (thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú).

Tú Xương là nhà thơ chuyển tiếp từ văn học của xã hội phong kiến sang văn học của xã hội mang tính chất thành thị theo lối tư bản chủ nghĩa. Thơ ông phác họa những mẩu người, mẩu đời rất đa dạng, cụ thể và chân xác từ đời sống thực tế của thành phố nơi ông sống, và cũng chính từ thực tế của bản thân ông. Qua đó ta thấy được những nét đặc trưng của một xã hội phong kiến suy tàn trên con đường thực dân hóa, với những biểu hiện lai căng chứa nhiều mâu thuẫn trong đạo đức và lối sống. Mặc dù sử dụng lối thơ Đường cổ điển, nhưng Tú Xương đã phá bỏ tính ước lệ, tượng trưng, quy phạm của thơ cổ điển. Cùng với sự chân thực trong chất liệu cuộc sống, Tú Xương đưa vào ngôn ngữ thơ ông những từ ngữ của đời thường, thậm chí cả tiếng lóng, tiếng bồi, tiếng nghề nghiệp của cư dân thành thị. Trong thơ ông có cả giọng nói trữ tình lẫn tiếng cười châm biếm, đặc biệt là nghệ thuật châm biếm trào lộng của ông rất sắc sảo, tự nhiên. Về mặt này, ông đã tiếp thu tiếng cười của văn học dân gian, kế thừa phong cách của Hồ Xuân Hương, làm gương cho nhiều nhà thơ trào phúng thời hiện đại.

8. CA TRÙ

Ca trù( 歌 籌 ) là một hoạt động hát xướng vừa chuyên nghiệp vừa dân gian. Có nhiều làn điệu, mỗi làn điệu đều có bài bản riêng về âm nhạc, về ca từ. Lời ca trong các làn điệu ca trù thường do các nhà thơ sáng tác. Ca từ trên đại thể là viết bằng chữ Nôm tiếng Việt, thỉnh thoảng xen lẫn vài câu Hán văn. Nghệ nhân trình diễn thường vừa hát vừa múa, do vai nữ (gọi là “đào”) thực hiện. Đôi khi cũng có sự tham gia phụ trợ của vai nam (gọi là “kép”). Có người ngồi cầm chầu, nếu chỗ nào hay thì gõ trống ném thẻ (tức “trù”) để thưởng cho con hát. Ca trù còn được gọi là “hát ả đào”, “hát cô đầu”, … Sinh hoạt hát xướng này có thể ra đời từ rất sớm ở Việt Nam. Dân gian còn nhắc nhớ câu chuyện một ả đào có công chống giặc Minh xâm luợc (thế kỷ XV). Bản ca từ sớm nhất còn lại đến nay là bài Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào ( 代 擬 八 甲 賞 桃 文) của Lê Đức Mao  黎 德 毛 (1462 – 1529). Bài ca từ này gồm 9 đoạn, 128 vế, viết theo thể lục bát, phối xen song thất lục bát. Đây cũng là tư liệu cổ nhất còn lại về hai thể thơ này.   

Có một lối hát ca trù phổ biến ở các thành thị từ Nghệ An trở ra, rất thịnh hành vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, mà ca từ đòi hỏi phải tuân thủ theo một thể thức riêng, gọi là thể “hát nói”. Tuy ca từ “hát nói” có khuôn khổ định sẵn, song số tiếng trong các câu có thể dài ngắn khác nhau (6,7,8 tiếng đều dùng), do đó tạo được tiết tấu thanh thoát, biến chuyển, không gò bó. Đây cũng là loại ca từ nòng cốt của ca trù, được nhiều nhà thơ tích cực tham gia sáng tác và nhập cuộc diễn xướng: Nguyễn Công Trứ  阮 公 著 (1778 – 1858), Cao Bá Quát  高 伯 适 (1808 – 1855), Nguyễn Khuyến  阮 勸 (1835 – 1909), Dương Khuê  楊 奎 (1839 – 1902), Chu Mạnh Trinh   朱 孟 貞 (1862 – 1905), v.v. Trong ca từ “hát nói”, đặc biệt là trong tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, chữ “tài” và chữ “tình” được đề cao, nhưng tài và tình ở đây không theo quy phạm của Nho gia, mà muốn thoát ra theo hướng khẳng định cái tôi cá nhân, hướng tới cuộc sống tự do phóng khoáng, đắm mình trong sự tự thưởng thức tài hoa của bản thân và hưởng thụ mọi vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống, đặc biệt là tranh thủ hưởng thụ thú vui thanh sắc.

9. KỊCH BẢN TUỒNG VÀ CHÈO           

“Tuồng” ( 象) là một loại kịch hát truyền thống của Việt Nam, hình thành từ thời Lý-Trần (thế kỷ XIII), phát triển mạnh ở ngoài Bắc dưới thời Lê mạt (thế kỷ XVIII) và ở trong Nam dưới triều Nguyễn (thế kỷ XIX). Kịch bản tuồng có tới hàng trăm vở, nhiều vở thất truyền, hiện có khoảng  50 vở đang lưu trữ trong nước và ở nước ngoài. Tuồng có hai loại: “Tuồng  thầy” ( 象師 ) và “tuồng đồ” ( 象 徒).

Tuồng thầy (còn gọi “tuồng pho”) mang tính bác học, chủ yếu diễn trong sân khấu cung đình. Kịch bản viết bằng chữ Nôm, pha lẫn nhiều câu chữ Hán. Hầu hết các vở tuồng pho đều do vua quan và nhà văn quý tộc soạn, lấy cốt truyện từ lịch sử các triều đại Trung Hoa, nội dung thường đề cao trung quân ái quốc, ca ngợi anh hùng nghĩa sĩ hy sinh vì nghĩa lớn. Tiêu biểu cho loại tuồng này là vở Sơn hậu ( 山 厚), hiện còn bản chép tay (năm 1832), do Đào Duy Từ  陶 維 慈 (1572 – 1634)  khởi thảo, về sau được Đào Tấn biên tập lại. ĐàoTấn  陶 晉 ( 1845- 1907) quê ở Bình Định, xuất thân trong gia đình nông dân nghèo. Sau được học hành, thi đỗ Cử nhân năm 1866, rồi được vào làm Hiệu thư trong Nội các nhà Nguyễn. Công việc chính của ông là soạn thảo các vở tuồng theo lệnh của vua Tự Đức. Sau này có lúc làm quan đến chức Thượng thư, nhưng ông vẫn không ngừng sáng tác. Bởi vậy ông là tác giả của một loạt các vở tuồng pho nổi tiếng đương thời.

Tuồng đồ mang tính bình dân, gần với dân gian, chủ yếu do các nhà Nho nghèo soạn. Tích chuyện không lấy từ Trung Hoa, mà tự sáng tác hoặc dựa vào chuyện kể dân gian. Nội dung thường châm biếm, đả kích quan lại địa phương, giàu chất hài hước. Tuồng đồ vẫn dùng văn vần chữ Nôm, nhưng nói nhiều hơn hát, gần với khẩu ngữ tiếng Việt. Tuồng đồ thịnh hành ở trong Nam, chủ yếu ở tỉnh Bình Định. Kịch bản ít được ghi chép hơn tuồng pho. Tiêu biểu cho loại tuồng này là vở Di tình ( 移 情), còn gọi theo tên các nhân vật chính là Nghêu Sò Ốc Hến ( 螯 蜆).

“Chèo”() cũng là một loại kịch hát truyền thống của người Việt, phổ biến chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc (từ Nghệ An trở ra). Chèo hình thành trên cơ sở ca vũ dân gian, bắt đầu từ thế kỷ XIII, thịnh hành vào thế kỷ XIX. Chèo là hình thức kể chuyện bằng các phương tiện hát múa dân gian. Tích chuyện có thể cải biên từ các truyện thơ Nôm, nhưng cũng có những vở chèo chuyên biệt và rất được công chúng bình dân ưa chuộng, như vở Kim Nham ( 金 岩) gọi theo tên của vai nam chính, hoặc còn gọi theo tên của vai nữ chính là Súy Vân ( 翠 雲 ).

10. VĂN XUÔI CHỮ NÔM

Văn xuôi chữ Nôm nói chung và văn xuôi chữ Nôm với tư cách là tác phẩm văn học nói riêng là lĩnh vực có phần nghèo nàn hơn so với văn xuôi chữ Hán trong văn học cổ điển Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có thể kể vào đây một số tác phẩm chư Nôm như sau:

Trước hết, đó là những bản “giải âm” ( 解 音) tức là bản dịch sang chữ Nôm, đi kèm với nguyên tác Hán văn đã có trước. Trong các ấn phẩm khắc ván thì phần “giải âm” luôn luôn song hành với nguyên văn chữ Hán, do đó văn bản “giải âm” không hẳn là tác phẩm dịch độc lập. Giải âm thường là bám sát từng chữ từng câu trong nguyên tác Hán văn để dịch thẳng (trực dịch) sang chữ Nôm, nên đôi khi không tránh khỏi cứng nhắc. Tuy nhiên, cũng có những bản “giải âm” khá trôi chảy, từ ngữ được cân nhắc chọn lọc thỏa đáng, nếu đọc riêng cũng cảm thấy liền mạch và hấp dẫn. Tiêu biểu cho loại này có bản giải âm của Viên Thái  圓 態 (khoảng 1400 – 1460) cho tác phẩm Hán văn Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục ( 古 珠 法 雲 佛 本 行 語 錄 ); bản giải âm tương truyền là của Nguyễn Thế Nghi  阮 世 儀 (khoảng cuối thế kỷ XVI) cho tập truyện Hán văn Truyền kỳ mạn lục ( 傳 奇 漫 錄 ) của Nguyễn Dữ  阮 山與 (khoảng giữa thế kỷ XVI); bản giải âm từng câu theo văn xuôi (chưa rõ dịch giả, bản khắc năm 1714) cho bộ Thi kinh) của văn học cổ điển Trung Hoa, v.v.

Một loại văn xuôi chữ Nôm nữa là các bản truyện ký “phóng tác” từ ngoại văn, chủ yếu là từ các ngôn ngữ châu Âu trong mối liên quan với công cuộc truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây, từ đầu thế kỷ XVII về sau. Đây là trường hợp của bộ Các Thánh truyện ( 各聖傳 ) do giáo sĩ Dòng Tên người Italia là Jeronymo Mayorica (1591 – 1656) chủ trì biên soạn (chắc chắn là với sự cộng tác của nhiều người Việt), là một phần trong toàn bộ 45 quyển sách văn xuôi chữ Nôm (gồm khoảng 4.200 trang, viết tay) do J.Mayorica đứng tên, hoàn thành vào năm 1646, hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Paris). Bộ Các Thánh truyện gồm 12 tập (hiện chỉ còn 11 tập với 1672 trang) trong đó kể chuyện các vị thánh Công giáo, cả thảy có đến gần 500 nhân vật, mà mỗi người đều có thân phận và tính cách riêng, với những nỗi gian nan và éo le và cả cực hình mà họ phải chịu trong khi kiên trì giữ vững niềm tin vào đức Chúa Trời để rồi cuối cùng được “đắc đạo” thành thánh. Do không bị lệ thuộc từng chữ từng câu vào nguyên tác ngoại văn có trước nên  lời văn ở Các Thánh truyện dễ gần với lời nói tự nhiên, câu văn kể chuyện biến hóa sinh động hơn nhiều so với các bản “giải âm” Hán văn đã nói ở trên. Xét về mặt ngôn ngữ văn tự, thì các bản văn xuối phóng tác này và cả các bản văn xuối giải âm đều những tư liệu rất có giá trị cho việc nghiên cứu tiếng Việt và chữ Nôm ở thời trung đại.

Lời kết

1. Tiếng Việt và tiếng Hán cùng một loại hình đơn lập – âm tiết tính, mỗi âm tiết đều có thanh điệu và trong văn bản cụ thể thì hầu như đều có nghĩa và là một ngữ tố. Bởi vậy hầu như tất cả các thể thức văn vần và biền văn trong Hán ngữ đều có thể được chuyển sang ứng dụng cho thi ca tiếng Việt. Thơ Nôm Đường luật và phú Nôm chính là sự ứng dụng thành công các thể thơ phú Trung Hoa vào Việt Nam. Tuy nhiên, sức sống và mức độ thịnh hành của chúng lại hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng thích nghi của chúng với văn hóa bản địa và nhu cầu thẩm mỹ của người Việt Nam qua các thời đại. Chẳng hạn, “Từ” là thể loại thi ca rất thịnh hành từ đời Tống ở Trung Hoa, nhưng ở Việt Nam nó không được ứng dụng nhiều, có thể tìm thấy một số bài từ chữ Hán ở các nhà thơ hoàng gia thời nhà Nguyễn, song với chữ Nôm thì rất hiếm thấy.

2. Trong khi đó thì ngay từ đầu, văn học chữ Nôm của người Việt đã tự tìm tòi sáng tạo cho mình những thể thức riêng so với văn học chữ Hán ở Trung Hoa và ở Việt Nam. Tiêu biểu là hai thể thơ dân tộc bắt nguồn từ dân gian là “lục bát” và “song thất lục bát”, mà cách luật hoàn toàn khác biệt với thi luật Trung Hoa: từ số tiếng (câu thơ dài ngắn khác nhau), gieo vần (vần chân và cả vần lưng), ngắt nhịp (nhịp lẻ trước, nhịp chẵn sau), đến cấu trúc khổ thơ và khả năng liên kết các khổ thơ với nhau. Nhờ đó văn học Nôm đã có được nhiều tác phẩm trữ tình (thể ngâm) và tác phẩm tự sự (thể truyện) trường thiên, đạt tới giá trị nghệ thuật cao mà văn học chữ Hán (cả Việt Nam và Trung Hoa) không hề có được. Chính các khổ thơ “lục bát” và “song thất lục bát” lại cũng thường xuyên có mặt trong các thể loại khác của văn học chữ Nôm.

3. Tuy nhiên, ngược lại, văn xuôi bằng chữ Nôm tuy không phải hoàn toàn vắng bóng, nhưng thành tựu thì tỏ ra hết sức mờ nhạt so với văn xuôi chữ Hán. Không chỉ ở Trung Hoa, nơi mà từ lâu đã có truyền thống viết truyện truyền kỳ và tiểu thuyết chương hồi, mà ngay ở Việt Nam cũng dễ dàng tìm thấy những tiểu thuyết chương hồi và truyện truyền kỳ bằng Hán văn. Tất cả những câu chuyện như thế, từ truyền kỳ, tiểu thuyết chương hồi và cả hí khúc chữ Hán, người Việt Nam đều sẵn sàng “diễn âm”, nghĩa là viết lại chúng dưới dạng văn vần “lục bát” và “song thất lục bát”. Nền văn xuôi tự sự và tiểu thuyết tiếng Việt chỉ thực sự hình thành và phát triển từ sau khi tiếp xúc với văn học phương Tây và chữ Quốc ngữ La tinh hóa được phổ biến, chủ yếu là từ cuối thế kỷ XIX đến nay.

4. Văn liệu Trung Hoa (bác học) thường được đọc với âm Hán Việt hoặc chuyển dịch sang tiếng Việt và ngữ liệu Viêt Nam thuần túy (dân gian) luôn luôn là hai nguồn chất liệu (ngữ liệu và văn liệu) làm nên tác phẩm văn học chữ Nôm. Và các tác phẩm văn học Nôm, bất kể là trong loại thể nào, đều có thể nghiêng về bên này (bác học) hoặc bên kia (dân gian) theo xu hướng thẩm mỹ của nhà văn và của công chúng. Song những tác phẩm đạt tới giá trị nghệ thuật cao đều là những kết tinh của sự phối hợp hài hòa của cả hai nguồn chất liệu đó, bảo đảm cho khả năng diễn tả phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn học Nôm.

5. Cũng cần nhắc tới một điều là trong văn học cổ điển Việt Nam, càng về sau thì văn chương chữ Nôm (tiếng Việt) càng phát triển mạnh, thậm chí có người chỉ chuyên sáng tác bằng chữ Nôm. Trong chính giới và cả trong văn giới, từ vua quan đến văn nhân, đều có những người thời này thời khác tỏ ra hào hứng với văn học chữ Nôm, mặc dù đôi khi cũng có kẻ coi thường, nhất là đối với loại truyện thơ bình dân. Thái độ trọng Hán khinh Nôm đã từng bị nhà thơ Phạm Đình Toái, tác giả Đại Nam quốc sử diễn ca chỉ trích: “Uống nước quên nguồn, người xưa chê trách. Trái thầy mà học, người hiền vốn tránh. Nước ta ở thiên về phương Nam, tiếng nói khác với Trung Quốc. Những học sĩ nho sinh, tuy tập theo văn tự Trung Hoa, song hát vịnh nói năng đều chẳng lìa bỏ thanh âm của bản quốc. Lẽ nào lại có thể chỉ một điều cho chữ Hán là thanh cao mà lại chối bỏ tiếng ta, chê là thô bỉ” (Trích Quốc âm từ điệu  國 音 辭 調 của Phạm Đình Toái).

Nguồn:

http://www.ivce.org/magazinedetail.php?magazinedetailid=MD00000272

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: