Cách phân·tích và giải·thích thuật·ngữ

Gốc từ Hi lạp và La-tinh trong Hệ thống Thuật ngữ Pháp – Anh
Tác giả: Nguyễn Hỹ Hậu

B. Danh pháp khoa học Anh, Pháp và tiếng Hy-lạp, La-tinh (tiếp theo)
I. Nguồn gốc thuật ngữ khoa học Anh, Pháp và lý do vay mượn tiếng Hy-lạp, La-tinh
II. Cấu tạo thuật ngữ khoa học dùng yếu tố từ thuộc các cổ ngữ
III. Cách phân tích và giải thích thuật ngữ

Bình thường, ít ai nghĩ đến chuyện tìm cách đặt từ ngữ, thuật ngữ khoa học mới. Thỉnh thoảng người làm khoa học phải gặp chuyện đó, nhất là khi họ nghiên cứu trong một lĩnh vực đang tiến triển mạnh.
Ðôi lúc người sản xuất dụng cụ hay hóa chất, dược phẩm mới, cần tìm một tên “kêu”, hấp dẫn và dễ nhớ, ….
Trái lại, thường xuyên ta cần phải tìm hiểu nghĩa của một thuật ngữ. Ngay cả người làm khoa học cũng có thể gặp từ mới do đồng nghiệp đặt ra, hoặc gặp từ lạ ở lĩnh vực khác.
Sinh viên thường gặp những thuật ngữ mới, phải tìm để hiểu, nhớ và dùng, như vậy mới có tiến bộ được trong chuyện học.

Ngày nay, dù không làm khoa học, ta cũng thường gặp thuật ngữ mới trong báo chí, quảng cáo, truyền hình, truyền thanh.
Phải nói ngay rằng, thật khó lòng mà hiểu một vấn đề nếu ta không chuẩn bị trước.
Ðây là điều cần thiết ở trong bất cứ lĩnh vực nào.

Tìm hiểu một từ mới bắt ta phải hiểu biết một phần nào đề tài, những vấn đề liên quan đến lĩnh vực đó.
Ví dụ nếu ta không biết cấu trúc phân tử thì khó lòng hiểu được khái niệm về hiện tượng đồng phân lập thể (điều này không có nghĩa là mình không thể hiểu những gì nằm ngoài tầm hiểu biết hiện tại và kinh nghiệm của mình).
Kiến thức của mỗi người có thể tăng dần bằng cách thâu thập thêm từ vựng cơ bản. Khái niệm về hiện tượng đồng phân lập thể chẳng hạn, có thể giải thích được cho người thường nếu bắt đầu tăng thêm hiểu biết của họ dần để họ có những khái niệm cần thiết.

Những từ La-tinh hay Hy-lạp đơn giản nhập nguyên dạng vào tiếng Anh và Pháp. Và vì quá đơn giản, không thể nào tách ra thành những phần nhỏ hơn được nữa. Không có cách gì giúp để hiểu nghĩa của các từ này: ta biết hay không biết nghĩa là do chuyện ta đã gặp hay chưa.
Ta không thể đoán những từ như tibia, thallus hay somas có nghĩa gì. Tuy nhiên, như ta đã thấy, phần lớn những thuật ngữ khoa học được cấu tạo bằng những yếu tố đơn giản và nếu hiểu những yếu tố này, ta có thể suy ra nghĩa của cả từ.
Ðó là một trong những đặc tính của phần lớn thuật ngữ khoa học. Vì vậy, ai muốn có một vốn từ vựng rộng, nhất là trong một lĩnh vực mới, chỉ cần nhớ một số gốc từ thường dùng trong ngành chuyên môn đó để tìm cách hiểu nghĩa các từ ghép, thay vì phải nhớ thuộc lòng hằng chục nghìn từ ghép.

Nếu ta không tìm hiểu thấu đáo để biết nghĩa của những gốc từ đơn giản và nhận diện chúng một cách dễ dàng thì không có gì giúp trí nhớ ta được : một từ đã gặp vẫn là một từ mới lạ khi ta gặp lại.
Xét các từ tiếng Anh sau đây, nếu ta chỉ biết polioplasm như là một tên lạ để chỉ “chất phôi có dạng hạt của tế bào” và myelocele là “thoát vị tủy sống” (thoát vị của tủy xương sống) thì khi ta gặp từ ghép poliomyelitis, ta cũng khó lòng biết từ này muốn nói gì.
Trái lại, nếu biết từ polioplasm nói trên gồm hai gốc từ polio- (g) có nghĩa là “xám” và plasm- (g) có nghĩa là “dịch tương, chất phôi” và từ myelocele gồm gốc từ myel- (g) có nghĩa là “tủy sống” và -cele (g) có nghĩa là “sa, thoát vị” cọng với tiếp tố -itis để chỉ bệnh viêm thì ta có thể hiểu và nhớ dễ dàng từ ghép poliomyelitis (viêm tủy xám).

Như vậy, tìm hiểu thấu đáo một từ (sau khi đã phân tích nó ra các thành phần) sẽ giúp hiểu nghĩa các từ khác có chứa một trong những thành phần đó. Các ví dụ như thế kể ra không xiết và thường gặp trong từ vựng y học, vi trùng học, sinh vật và cổ sinh vật học, …
Công việc đầu tiên để hiểu một từ là tìm cách phân tích ra các thành phần .

Ví dụ khi xét từ (e) myasthenia , ta thấy có các thành phần sau đây :
my – + a + sthen + -ia .
Nghĩa các gốc: myo- , cơ; a-, thiếu, không có; sthen-, sức mạnh; -ia, tiếp tố tạo danh từ.
Vậy myasthenia có nghĩa là “chứng nhược cơ” nói đến hiện tượng các bắp thịt không đủ sức làm việc.

Từ (e) asymmetrical được phân tích như sau : a – + sym – + meter + -ic + -al.
(a-, thiếu, không có; sym-, cùng, với; meter, đo lường; -al, tiếp tố tạo tính từ).
Phân tích như vậy sẽ cho thấy nghĩa “đo không bằng nhau” hay “bất đối xứng” của từ này.

Những từ như (e) antiseptic, microphyllous, anemometer, centripetal, pentadactyl, hyperglycaemia, … là một ít ví dụ trong số hàng ngàn từ dễ hiểu.
Có thể nếu chỉ dịch các gốc từ thì không hiểu thấu đáo nhưng cũng giúp ta biết được ý chính. Ta thấy từ ta muốn tìm hiểu bớt lạ, làm ta bớt ngỡ ngàng. Nhiều khi ta có thể đoán được nghĩa nhờ bối cảnh, tức là nhờ những phần khác của câu văn.
Ngay cả khi chỉ nhìn ra một hai thành phần của từ cũng đã giúp ta phần nào.

Ngoài ra có rất nhiều từ khác mà ta khó lòng đoán được nghĩa:
Ví dụ “pericardium” rõ ràng muốn nói “quanh trái tim” nhưng ta không thể hiểu rõ hơn; cũng như electrometer là “dụng cụ đo lường về điện” nhưng đo gì, đo tính chất nào ?
Từ “isotope“, nhìn qua thì ta chỉ hiểu là “có tính chất ở cùng một vị trí” với một cái gì khác.

Tuy vậy, ngay trong những trường hợp này, sau khi đã được giải thích, ta sẽ thấy các từ này cũng muốn nói một cái gì, giúp ta dễ nhận khi gặp lại lần khác và sẽ giúp ta nhớ dễ hơn.
Ta lại giúp trí nhớ rất nhiều khi tìm quan hệ giữa các từ tương tự, giữa những từ đã biết với những từ chưa biết : chẳng hạn đem xét từ “perturbation” cùng có gốc chung với từ “disturb” để tìm liên hệ. Nếu hiểu cách cấu tạo và phép phái sinh, những từ lạ, khó hiểu cũng có thể cho ta vài ý niệm về nghĩa của chúng.
Không những hiểu nghĩa mà còn giúp ta viết đúng chính tả. Nếu hiểu từ nguyên, ta sẽ biết : những từ sau đây, từ nào chứa một hay hai s : disappear, disappointdissolve; tại sao có hai n trong innocuous và chỉ một trong inoculate; viết đúng từ desiccate, không còn là một khó khăn nữa ….

Cũng nên nhớ rằng cách phân tích thành tiền tố, gốc từ, tiếp tố thường không theo đúng các âm tiết.
Chẳng hạn “bellicose” do các thành phần bell – (chiến tranh), – ic (thuộc về) và – ose (đầy tính chất) hợp lại chớ không phải do ba âm tiết bel-, -li-, -cose.

Khi phân tích từ, có hai điều khó khăn thường gặp :

a. Sự lẫn lộn do việc hai gốc từ nhiều khi được viết giống nhau.

Ví dụ :

– Ba từ transparent (trong suốt, rõ ràng, minh bạch) , parent (cha, mẹ) và preparation (sửa soạn, chuẩn bị) có chứa ba gốc từ La-tinh khác nhau, được viết là par giống nhau nhưng có ba nghĩa :

par- có nghĩa là “xuất hiện, hiện ra”;
par- là “sinh ra” và
par- cũng có nghĩa là “sẵn sàng, chực sẵn”.

– Trong aphasia (mất ngôn ngữ, vong ngôn), pha- có nghĩa là “nói”;
trong phase (thời kỳ, giai đoạn) do gốc pha-, có nghĩa là “hiện ra”
và trong phagocyte, (thực bào, tế bào máu trắng nuốt vi khuẩn), phag- có nghĩa là “ăn”.

– Nếu ta không biết rõ nghĩa của những từ electrode (điện cực), orthodontist (chuyên gia chỉnh răng) và melody (giai điệu) ta cũng có thể lầm rằng od- trong ba từ này có cùng gốc.
Nhưng thật ra od- trong electrode có nghĩa là “đường, đạo, lối đi”; trong orthodontist, “od” chỉ là một phần của odont-, nói đến “răng” và trong melody, od- có nghĩa là “khúc hát, bài thơ”.

Một khi đã biết nghĩa của những gốc từ cũng như nghĩa của những từ nói trên, ta có thể phân tích không nhầm lẫn một từ mới khi ta biết nghĩa mà khỏi cần tới từ điển.
Ví dụ, khi ta biết rằng threnody là “một bài thơ, khúc ca cho người chết hay điếu văn” thì ta có thể chắc rằng od- ở đây phải có nghĩa là “bài thơ, khúc hát”.

Chính là việc tìm nghĩa sau khi phân tích mới là chuyện khó, cần thận trọng.
Ðáng chú ý nhất là những từ hay gây nhầm lẫn do việc hai gốc từ khi chuyển chữ từ tiếng La-tinh hay Hy-lạp qua tiếng Anh, Pháp được viết giống nhau.

Ví dụ:

Một số gốc từ Hy-lạp và La-tinh viết giống nhau nhưng có nghĩa khác nhau. Hãy phân biệt các gốc La-tinh và Hy-lạp sau đây:

bi-, “số hai” ; bi-, “đời sống”
tact –, “sờ mó” ; tact –, “sắp đặt”
ped –, “chân” ; ped –, “trẻ nhỏ, con nít”.

Pedalpediatrics không có cùng một gốc nên nghĩa rất xa nhau !

Hãy xét ba từ cenotaph, cenophysiccenotype. Gốc ceno – có nghĩa là gì?
Gốc của ba từ trên đều có nghĩa khác nhau, vì trong tiếng Hy-lạp phải viết là koino –, kaino –, và keno – nhưng qua tiếng Anh đã trở thành một mà thôi !
Những dạng giống nhau do hiện tượng đồng hóa phụ âm (sự thay đổi âm cuối), sự lướt bỏ nguyên âm (rụng nguyên âm cuối) hay do tình cờ, âm hay cách viết giống nhau đã gây nhiều khó khăn.
Ta cần phân biệt những gốc từ khác nhau như mell –, melli –, melo –; mio –myo – ;
cũng như: brachi –brachy –; chilo – chylo –;
-phile , -phyle-phyll
Trái lại, paed –ped – có thể cùng một gốc, cũng như ped –pod – nhưng không bắt buộc khi nào cũng vậy. Một số từ hay gây nhầm lẫn đã được kê khai ở phần phụ lục.

b. Nghĩa của từ khi đoán ra từ các thành phần không có nghĩa hiện tại của từ.

Ví dụ :

– “precarious “, theo từ nguyên là “thuộc về lời cầu nguyện” (do gốc prec-, “prayer”, lời cầu nguyện), chẳng có gì gần gủi với nghĩa của nó là “phụ thuộc vào may rủi, không ổn định, không chắc, bấp bênh”.
Khi đem so sánh nghĩa từ nguyên và nghĩa hiện nay của nó ta mới nhận ra rằng một “precarious situation ” là một trạng huống ngoài sức người, chỉ nhờ vào may rủi và cầu khẩn.

– “decimer ” của tiếng Pháp thông thường, nếu nhìn vào gốc từ dec– thì có thể đoán rằng từ này có dính dáng đến “số mười” hay “một phần mười” chớ không có nghĩa là “tàn sát, hủy diệt”.
Chỉ khi biết rằng thời xưa, từ này dùng để chỉ tục lệ trừng phạt tội nổi loạn chống đối bằng cách đem lính phạm tội ra, cứ 10 người giết đi một và do đó từ này mới có nghĩa của nó hiện nay.

Ðây cũng là dịp làm ta thích tìm hiểu về từ nguyên và những từ có “lắm chuyện” lại là những từ làm ta nhớ lâu, sau khi trí tò mò được thỏa mãn.

Một từ điển từ nguyên sẽ giải thích đầy đủ về cách biến hóa của từ và giúp ta hiểu biết tục lệ, tín ngưỡng xưa hay cho ta một cái nhìn có “tính người” trước sự vật.

Ví dụ từ “lunatic ” có chứa gốc từ lun- có nghĩa là mặt trăng (cũng như tính từ lunar ), nhắc ta rằng, có một thời, người ta tin rằng sự mất trí, bệnh điên là do ảnh hưởng của mặt trăng.
Một ví dụ khác, từ “candidate ” có gốc theo từ nguyên là “mặc áo trắng”, do chuyện vào thời La-Mã, các chính trị gia, khi ra tranh cử, thường mặc áo choàng rộng màu trắng, biểu hiện sự trong sạch.

Một số sai lầm vẫn tồn tại trong thuật ngữ khoa học. Thật vậy, một số thuật ngữ không được đặt đúng cách, hoặc có nghĩa của thời khi chúng được đặt ra và có thể nay không còn đúng nữa.

Ví dụ : “atom ” vẫn còn có thể tách ra từng thành phần được;
vitamins” không phải có gốc amin;
maria” không phải là “biển” của mặt trăng;
oxygen” không phải là chất tạo nên axit.
Một số chất bị đặt tên sai : “Helium“, tuy có tiếp tố -ium nhưng không phải là kim khí như người ta lầm tưởng lúc mới tìm thấy nhờ quang phổ…

Khi phân tích từ, cần phải thận trọng và vận dụng hết hiểu biết và trí thông minh. Có một cuốn từ điển tốt rất cần thiết vì phải xem lại coi thử nghĩa đoán được nhờ phân tích như trên có đúng không. Phép phân tích thường chỉ giúp ta nhớ dễ hơn sau khi đã có định nghĩa chính xác.

Thuật ngữ khoa học Anh, Pháp phải dùng cổ ngữ La-tinh và Hy-lạp. Ta tự hỏi tại sao phải như vậy ? Ta đã nêu ra một số lý do ở trên.
Lý do chính là gốc từ của các cổ ngữ ngắn gọn và cách tạo từ ghép dễ dàng và tiện lợi.
Người Âu châu không có những gốc từ ngắn gọn hay sao ?
Thay vì dùng những từ như diameter , hippopotamus và telephone , người Anh có thể nói “through measure “, “riverhorse ” và “farsounder ” và hàng nghìn từ khác có thể thay thế các từ có gốc Hy-lạp. Họ có thể làm nhưng tại sao họ không làm ?

Có lẽ những người Anh đời trước muốn tỏ ra mình thông thái và họ cố tình tránh dùng những từ mà mọi người đều biết. Có lẽ họ tin rằng những từ mới vay mượn sẽ không đem lại sự lẫn lộn như khi đem dùng những từ đã quen thuộc.
Chẳng hạn “love of wisdom ” có thể gây một nghĩa, một ý nào đó đã có sẵn, trong khi trái lại từ “philosophy “, khá mới lạ (khi từ đó mới được dùng lần đầu và hoàn toàn chưa được dùng để chỉ một sự vật hay một ý niệm nào đó có rồi), sẽ có một nghĩa hoàn toàn mới để chỉ môn học mới là triết lý.

Như vậy hoặc là vì sính chữ hay vì lý do cần thiết và có lẽ là do cả hai, những phát minh mới, ngành học mới, những phối hợp các khái niệm mới, đều được đặt tên, phần lớn có gốc Hy-lạp và La-tinh. Cho nên ngày nay, để có thể hiểu và dễ nhớ nghĩa của thuật ngữ khoa học Anh và Pháp, ta phải tìm hiểu các thành phần tạo nên từ ghép, nghĩa là các gốc từ cũng như các tiền tố và tiếp tố của hai cổ ngữ Hy-La.

I. Nguồn gốc thuật ngữ khoa học và tiếng Hy-lạp, La-tinh
II. Cấu tạo thuật ngữ khoa học dùng yếu tố từ thuộc các cổ ngữ
III. Cách phân tích và giải thích thuật ngữ

Nguồn: http://hyhau.free.fr/ChapTwoB.html

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: